Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2009

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC

Buổi sáng ở ngoại ô Sài gòn

Hè, tôi lưu chân ở Sài Gòn một tháng. Sự hào phóng của đất và người trên hòn ngọc phương nam đã cho tôi nhiều kỉ niệm.
Tôi trọ nhà anh bạn trong con hẻm nhỏ trên đường Kha Vạn Cân. Nhà quay mặt ra sông Sài Gòn đục ngầu nhưng đêm về trở nên huyền ảo, thơ mộng bỡi ánh đèn đô thị phản ngược lập lòe mang chút cổ xưa giữa lòng thành phố hiện đại. Khu trọ ở sâu tận cùng con hẻm, có đến vài chục phòng, người khắp ba miền làm nhiều nghề như giám đốc, tiến sĩ, giáo viên, nhà báo, công nhân, thợ xây, giúp việc, giữ trẻ và hình như có cả gái điếm. Xung quanh khu nhà có một vạt đất trống nhiều cỏ tranh loang lỗ đan xen vài cây ăn quả cạnh vườn mai xuân không người chăm sóc. Cảnh giống nông thôn. Có lẽ, cả Sài Gòn chỉ còn chỗ này “giàu có” như thế.
Ban ngày, cả khu trọ nằm im thin thít. Người đi vắng. Họ đi làm và trở về nhà khi đêm đã khuya. Hình như cuộc sống đô thị cuốn hút con người theo vòng xoáy, hết giờ này đến ngày kia. Khu trọ chỉ rộn ràng lên được một lúc sáng sớm. Đó là bóng dáng anh giám đốc kia phơi áo quần cho vợ, chị vợ nọ hối chồng chở đi làm…và đôi lúc có cả tiếng cãi vã của đôi vợ chồng bên cạnh về chuyện tiền nong, công việc. Trong số những người chung xóm trọ, tôi nhớ nhất vợ chồng anh Khôi chị Thúy thợ xây, quê Long An.
Anh Khôi và Thúy xa quê lên Sài Gòn lúc 15 tuổi. Miền đất hứa đã cho mọi người nhiều cơ hội nhưng với anh Khôi chị Thúy đến giờ vẫn hoàn tay không. Lận đận kiếm cơm, thế mà anh chị vẫn tốt nghiệp cấp 3. Giấc mơ vào giảng đường của hai người không vượt được hoàn cảnh. Rồi duyên trời run rủi, anh chị thành đôi, thành người Sài Gòn gần mười năm nay. Ban ngày, hai vợ chồng đi xây, tối anh phải ra sông Sài Gòn thả cá, rà lươn để có thêm thu nhập. Những con cá lóc, con lươn anh mang về mập ú. Mỗi sáng, chị mang ra đầu con hẻm ngồi bán. Người tiêu dùng thích “của trời”, chị ngồi chưa được 20 phút, rổ lươn đã hết sạch.
Những ngày tôi vào, công trình anh đình công vì chưa có giấy phép xây dựng, ban ngày anh ở nhà. Anh đãi tôi món miệt vườn anh tự nấu. Tính xởi lởi của người miền nam ghi dấu ấn khá rõ trong từng lời ăn tiếng nói. Lịch sự nhưng không dè dặt kín đáo, lễ nghĩa nhưng không quy cách như người miệt ngoài. Cảnh vợ mua rượu, ngồi nói chuyện để chồng lai rai không lạ gì. Cuộc sống xoay với bao điều chưa nói hết giữa đô thị hiện đại mà vợ chồng anh vẫn vô tư thư thả giữa đời thường. Cả hai bây giờ dù chưa giàu có, không cội rễ nhưng với chừng ấy năm anh vẫn là người Sài Gòn trong cách nhìn của tôi. Tôi ngưỡng mộ vì họ giống những người tôi từng mến mộ: nghèo, khát sống và ước mơ. Khổ nỗi, niềm tin không vật nổi hiện thực, họ là những người tốt, mấy ai biết.
Ngoài sự hối hả tất bật của cuộc sống, phong cảnh buổi sáng ở ngoại ô Sài Gòn giống một miền quê đích thực. Vừa chợp mắt đã nghe tiếng con trùng thức giấc, tiếng khứu, tiếng chim chìa vôi hót vang, tiếng gió xạc xào trên những tán dừa trước hiên, cánh hoa mận rơi trước sân… Nắng lên, từng đôi chim sẻ vào tận sân nhặt sạn, nghe cửa động, chúng bay vù lên cây trứng cá rỉa lông, chuyền cành. Bên ngoài, bươm bướm chập chờn trên từng bông cỏ…Tất cả đều không như sự thật, chắc rằng sẽ lưu vào trí nhớ nếu ai thư thả hòa mình với cuộc sống.
Nếu như sự bức bối chật chội tốc độ nằm trong trung tâm thành phố thì bên này vòng cung sông Sài Gòn đã cho một miền đất nhiều cảnh đẹp. Ở đây có sông nước, nhà vườn, quán bình dân và còn cả những con người rộng lòng sau những giờ làm ăn mệt nhọc. Tôi sợ một ngày nào đó đô thị sẽ phình to, lấn át cả vùng ngoại ô Sài Gòn nên thơ hữu tình, nơi tôi đã từng đặt chân đến rồi đi.
Theo Báo Du Lịch TP. HCM
ĐTT

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2009

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC



Cây thị đầu làng
Tuổi thơ tôi gắn với từng kỉ niệm ngọt ngào nơi làng quê.Từ buổi sáng tinh sương đến từng buổi chiều bảng lảng tiếng hoàng hôn, kỉ niệm đều in hình thành những nét rất riêng - ghi dấu ấn của một vùng đất trong tiềm thức, trong sáng và tươi nguyên - mà sau này có đôi lúc giật mình thảng thốt, nó trở thành kí ức dai dẳng theo ta đến suốt một đời.
Những năm đầu thập niên 80 của thế kỉ trước, làng tôi còn nghèo. Ban ngày, cả làng thường đi làm đồng vắng, chỉ còn lại các cụ già và đám con nít tụi tôi. Tuổi thơ chúng tôi thường vây quanh nơi gốc cây thị cụt đọt đầu làng trò chuyện, nô đùa, chơi trò đuổi bắt. Có hôm, tôi và đứa bạn trốn sâu trong một hốc cây nên cả nhóm chẳng đứa nào tìm ra… Bóng cây sừng sững, che bóng mát cả một vùng đất trống, che cả tiếng cười giỡn nô đùa hú hí của tụi tôi; lúc tốt trời, âm thanh đó vang tận vào chân núi trong cánh đồng rồi vọng ngược trở ra như âm vang thần thánh..
Cây thị gắn với tên đất tên làng nhưng cây có tự đời nào không ai biết. Chỉ biết từ những năm đánh Mĩ, nơi đây từng là một trong những địa điểm bí mật của cách mạng, cây đã từng chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng của xóm làng. Rồi khi địch phát hiện, chúng đem bom ném xối cả vùng, cũng may bóng cây chỉ bị thương và cụt đọt; vết thương trên thân cổ thụ nhanh lành rồi cây sống cho đến bây giờ. Sau ngày đất nước thống nhất, dân làng về đây đoàn tụ đông đủ, cây dường như cũng trẻ lại và xanh tốt hơn. Gốc cây dễ chín mười người ôm không hết để lộ chùm rễ to bạnh phủ kín cả mặt đất như những con trăn khổng lồ đen trũi. Sang mùa quả chín, hương thơm theo gió bay ngát cả làng. Tôi và đám bạn thường dối mẹ, từ sớm, tranh thủ đi lượm trái thị chín rụng qua đêm. Suốt mùa thị chín, tôi và Nhân là người đứng đầu về số quả và hạt thị nhặt được . Quả thị chín có mùi thơm dễ chịu, hương bay xa, theo gió sang tận bên kia làng.
Gốc thị đầu làng cũng là nơi diễn ra lớp học đầu lòng của lứa tụi tôi. Lúc đó, quê còn nghèo. Chưa có mái trường nên chúng tôi tạm ngồi dưới bóng cây nghe cô giáo dạy hát múa và cầm tay tập cho những nét chữ ê a đầu đời. Đang mùa thị chín, có lúc quả rơi từ trên cao xuống, cô nhặt lên như môt bà tiên thật hiền mà sau này nghe thầy cô kể tôi mới hình dung được điều đó có trong cổ tích. Lẫn trong tiếng gió vi vu, hương thị nồng nàn, tiếng cô trò vọng lại nghe thân thương đầm ấm khó quên.
Cây thị đầu làng còn là nơi tụ họp vui chơi sinh hoạt hay buôn bán với vài đôi quang gánh trong làng. Mặc dù cuộc sống trăm nổi nhọc nhằn nhiều bộn bề lo lắng nhưng bà con xóm làng vẫn vồn vã vui tươi, nhất là những ngày hội làng hay những đêm sáng trăng. Bóng cây uy nghi linh thiêng che chở bảo bọc cho dân làng cả về đời sống tâm linh lẫn cuộc sống thường nhật. Nỗi buồn hay niềm vui được mùa cũng cậy vào bóng cây mà cần cù vượt qua khó nhọc, đi lên.
Thời gian cứ bình lặng trôi đi, tôi lớn dần lên và lớp học vỡ lòng cũng bình yên trôi vào dĩ vãng. Gửi làng quê yêu dấu lại với bạn bè, cô giáo và cả gốc thị đầu làng, tôi đi xa. Không ngờ mỗi lần ra đi lại là mỗi lần xa cách. Cuộc sống tất bật đã làm cho con người quên đi nhiều thứ, trong đó có một phần của quê hương, dần già quê hương đã trở thành kỉ niệm trong tâm thức của mỗi người con ra đi.
Tết vừa rồi, tôi trở về. Bây giờ làng quê đã thay đổi nhiều. Đứng trên con dốc đầu làng nhìn xuống trông xóm nhỏ năm nào như một thị trấn. Chen với từng mái ngói đỏ tươi, nhiều ngôi nhà sang trọng và những làn dây điện dọc ngang như có chút gì hiện đại. Rất mừng cho quê hương đã thay đổi, đi lên theo sự phát triển chung của đất nước. Tôi hối hả tìm về một thời đã lâu nhưng bạn bè một thuở đã đi xa chưa về. Cô giáo cũ năm nào nay đã lớn tuổi, đang chống chọi lại căn bệnh tuổi già với khí lạnh cuối mùa miên man sắp qua và cái nóng ran rát miền trung sắp về. Và em, cô bạn thân nhất của tôi ngày nào bây giờ cũng biền biệt quê chồng mù khơi; nghe đâu lâu rồi cô cũng chưa trở về thăm cha mẹ, bạn bè. Tôi rảo bước sang đầu làng tìm về hướng cây thị năm nào nhưng không thấy bóng cây đâu. Người ta đã chặt nó vì một lí do gì không biết, xây lên một cái cổng làng văn hoá nho nhỏ để bên trên dư ra một khoảng không gian làm xốn xang cả một vùng kí ức tuổi thơ!
Không biết những người sau lứa tụi tôi bước chân qua khỏi cổng làng có còn nhớ về quê hương với những kỉ niệm ngọt ngào như chúng tôi đã từng nhớ hay không.

DTT

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2009

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC


Sinh nhật mùa ( Cho các em học trò 12 thân yêu)
Bao nhiêu năm gắn với màu hoa phượng sân trường, tôi chợt nhận ra rằng thời gian cũng có tuổi như con người. Từng giờ, từng ngày mùa tuần hoàn đến, ở quanh ta rồi đi. Mới hôm trước đây, mùa xuân hoa mai vàng hé nụ, chim én bay về sau tiết lập xuân, cây phượng góc sân trường đâm chồi nảy lộc thì hôm nay trên cành cao lộc non đã xanh và bắt đầu điểm một màu đo đỏ bé tí.
Hạ sang rồi nhưng ngôi trường vẫn im lặng như mùa đông. Các em đang miệt mài bài vở để chuẩn bị “vượt vũ môn hoá rồng” hay vô tình không thấy những chùm phượng kia! Tôi tin chắc rằng các em là người phát hiện đầu tiên, phải không! Phượng hé nụ là tín hiệu, là sinh nhật mùa đấy các em à. Ta thử hỏi rằng mùa đã bao nhiêu tuổi. Khó và không tìm được câu trả lời chính xác nhưng biết rằng mỗi năm mùa cũng thêm một tuổi như con người.
Bây giờ, phượng cho hoa. Từng chùm phượng bắt đầu đỏ dần dưới ánh nắng hè trông như từng ngọn nến trong đêm sinh nhật.. Ngàn bông hoa hoá ra mùa đã trên ngàn tuổi, hèn chi gốc cây rễ xù xì đụn lên như những con rắn khổng lồ mà lũ học trò hay ví von hù nhau khiếp sợ. Không phải thế đâu, phượng thật đáng yêu và có lẽ yêu hơn người ta tưởng.
Lúc mới bước chân vào lớp mười, các em còn nhút nhát. Chính chỗ này, gốc phượng này các em đã ngồi để ngắm cảnh sân trường cấp ba. Chao ôi, lạ quá, khác quá và cũng bình thường quá! Trường học có khác gì dưới cấp hai mà sao các em hay tưởng tượng và ngơ ngẩn đến nỗi lạ kì. Bộ óc con người thông minh và phong phú nhiều lúc làm cho người ta hơi bị thất vọng không ngờ. Nhưng không đâu: từ nơi này các em khép nép rồi làm quen; từ nơi này các em có thêm bạn bè và thầy cô mới; từ nơi này các em quen dần và xem như ngôi nhà của mình mỗi khi đến trường và cũng từ nơi này chúng ta có bao kiến thức cần thiết để chuẩn bị một cuộc hành trình, tiếp theo bước chân trên con đường của nhiều người đặt trước.
Một năm trôi qua, rồi hai năm nhanh chậm…có biết bao nhiêu điều kì diệu khó quên. Những lúc vô tư, trong sáng hay giận hờn, kí ức đều ghi nhớ và nhiều khi bềnh bồng chồng chất như sương núi trong tâm thức tuổi học trò. Nhanh thật. Giờ đây, các em lớp 12 chỉ còn lại những ngày cuối của tuổi học trò thần tiên dưới mái trường phổ thông. Biết nói gì trước lúc chia xa, biết nói gì cho nỗi nhớ đầy vơi không thay đổi. Hạ làm cho con người chờ mong, hạ để lại bao tiếc nuối xót xa và hạ cũng báo trước nhiều điều làm cho lòng người trong cuộc thêm day dứt, bâng khuâng.
Với tuổi học trò, hoa phượng như một hình tượng quen thộc vừa buồn vừa vui khó nói hết. Phượng gắn với áo trắng sân trường song phượng cũng chia tay ngăn cách để lại tình cảm đầu đời lưu luyến khó phai. Mai này dù có đi xa nửa vòng địa cầu, có thành danh cao chức trọng hay một ngày tuổi tác già nua đến mấy, khi nhìn lại những tấm ảnh cầm chùm phượng vĩ trên tay, chắc rằng các em cũng sẽ nôn nao nhớ lại một thời cắp sách đến trường.
Mùa hạ không có tuổi hay ta không đếm được tuổi của hạ. Cho dù hiểu thế nào đi nữa thì cuộc sống, con người, tạo vật luôn tựa vào nhau cảm thông chia sẻ để trái đất này được bình tâm hơn. Ngày mai đâu đó trong cuộc đời, những lúc bất chợt thấy phượng đơm bông, các em nhớ rằng đã đến sinh nhật mùa rồi đấy - tuổi của mùa lần đầu tiên ta biết là những ngày cắp sách đến trường. Khi đó ta tìm một nơi thật yên tĩnh, nhắm nghiền mắt lại để cùng thắp lên một ngọn nến cho mùa thêm sức sống, rồi nắm chặt tay lại hô thật to: Cố lên!

ĐÀO TẤN TRỰC

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2009

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC


TÓC DÀI TRÊN PHỐ
Con gái đến tuổi dậy thì, tóc bắt đầu đen và mượt dần. Mười bảy tuổi, mái tóc dịu dàng xoã kín bờ vai. Tóc dài làm tôn thêm vẻ đẹp, duyên dáng; nó như một phần tạo nên vóc dáng, nết na của người thiếu nữ .
Ngày trước các thôn nữ thường gội đầu bằng lá chanh, lá bưởi, lá dứa…Mái tóc đã đen lại càng đen nhánh, óng mượt và xanh thẳm. Ngày đó tóc dài vừa để làm đẹp, vừa như một sự bình thường hiện hữu hiển nhiên. Con gái ai cũng tóc dài! Tôi có lần mê mẩn trước nét đẹp trên một mái tóc dài của cô bạn học cùng trường. Mái tóc cô như có linh hồn phả vào tôi bao điều kì diệu. Những lần tan lớp, tôi thường đi sau cô, cố giữ một khoảng cách vừa đủ để ngắm nhìn mái tóc xoã trên bờ vai ngọc ngà dưới làn nón nghiêng che hoà quyện cùng chiếc áo dài vô tư đạp xe trên phố. Con gái có mái tóc dài đạp xe trên phố đẹp và dịu dàng. Con gái có mái tóc dài đạp xe trên phố có biết bao chàng trai lặng lẽ theo sau làm cho con đường rợp bóng mát dưới những hàng cây cổ thụ đã xa lại càng xa thẳm và hun hút hơn. Tôi biết yêu mái tóc dài từ đó, biết quý từng con đường và dường như bớt căng thẳng hơn sau nhiều buổi tan trường. Tóc dài trên áo, áo dài trên phố như đàn bướm trắng lộng lẫy giữa vườn hoa mùa xuân làm cho phố phường trong giờ tan tầm gần như chật ních lại không bao giờ ngột ngạc vô duyên.
Một may mắn trong đời, tôi nhiều năm được sống ở mảnh đất cố đô, nơi có ngôi trường Đồng Khánh ngày xưa nổi tiếng nay là trương Hai Bà Trưng cạnh trường Quốc Học. Con gái Huế mặc áo dài tím qua cầu Tràng Tiền trong bất cứ thời gian nào cũng trông mới dễ thương làm sao. Hầu như thiếu nữ Huế đều để tóc dài. Có những cô tóc dài như nước dòng Hương dịu dàng soi bóng kinh thành mát dịu. Trời Huế mờ sương, khí hậu trong lành hoà hợp theo mùa nên bất cứ gam màu nào tóc dài cũng đẹp.
Thời cắp sách đã lùi xa vào dĩ vãng. Mái tóc dài cũng trở nên hun hút như những con đường có bóng cây hay thoáng qua trong trí nghĩ. Biết bao việc cần với thực tế, biết bao việc phải làm cho cuộc sống hôm nay chưa nói hết nên phần nào nét đẹp của mái tóc dài cũng lùi xa vào ngày cũ. Một lúc nào đó chính tôi cũng tự thấy mình đứng xa với ngày xưa, kể cả đám bạn thân một thời. Bây giờ thời gian hiếm như vàng, một năm gặp mặt một lần cũng đủ lắm. Gặp để tâm sự, sẻ chia, gặp để nhận ra ít nhất một lần ai cũng khác, kể cả cô bạn ngày trước có mái tóc dài chấm lưng. Cô vào nam học đại học rồi làm việc, có lẽ mái tóc dài không phù hợp với môi trường và công việc nên cô đã đành lòng cắt đi… Cũng đúng thôi. Phù hợp, quý phái và sang trọng… âu cũng là một tiêu chí cho người phụ nữ ở bất cứ thời điểm nào.
Ngày nay, mỗi chiều ra phố tôi muốn nhìn một mái tóc dài thướt tha cho đỡ nhớ sao không thấy.

Đào Tấn Trực

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2009

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC

Vầng trăng vẫn thế
Nơi tôi ở gần với khu công nghiệp nên ít khi bị mất điện. Có chăng cũng thỉnh thoảng nhưng tối nay lại mất điện. Căn phòng chật, trời nóng nên tôi ra ngoài cho thoáng. Ngồi nhìn đường quốc lộ, từng đoàn xe nối đuôi nhau ra bắc vào nam trong bóng đêm ồn ào, lặng lẽ. Bầu trời cao vời vợi, những ngôi sao đồng hành cùng ông trăng sáng. Tôi nhắn tin: Em làm gì, tối nay trăng sáng, mình lên đỉnh Nhạn ngắm trăng em nhé! Chu cha, hôm nay anh cũng lãng mạn thế à….
Lâu giờ tôi quên đêm trăng sáng thật đấy. Trăng đến độ vẫn như thường nhưng lỗi do mình hờ hững qúa thôi. Đúng rồi, ban ngày bao nhiêu là việc, có khi quên cả mình, tối về nhà đã khuya lại phải chuẩn bị cho công việc ngày mai – ngày dương lịch nên làm gì có thời gian nhớ đến ông trăng như năm nào.
Lại nhớ về ngày cũ. Suốt thời trẻ con rồi học phổ thông, tôi chưa bao giờ được đánh vần, ngồi làm bài tập dưới bóng điện nơi quê nhà. Nhà quê lam lũ trong bóng đêm, trong bóng đèn dầu nhưng không hề tối tăm. Mỗi đêm trăng, bọn trẻ con chúng tôi hay chơi trò đuổi bắt, trốn tìm trong xóm, kỉ niệm mênh mang và nhiều khi mơ hồ đã chìm theo ngày tháng. Các cô chú, anh chị cũng rộn ràng mỗi độ trăng về… Bóng Trăng nơi miền quê như thâu tóm toàn bộ cảnh vật, bầu trời vào tấm gương thần rồi chiếu ngược lại làm cho thiên nhiên nên thơ, hữu tình và không trơ trụi, bụi bặm như ban ngày.
Từ làng quê không điện, biết bao con người đã ra đi, thành đạt, đóng góp công sức mình cho công cuộc xây dựng đất nước. Do môi trường, cuộc sống, lứa tuổi và công việc làm ăn nên nhiều người bây giờ không có thời gian nhớ về những chuyện không đâu. Cả ngày ngồi trong phòng lạnh hay mải mê vận hành những cổ máy; tối lại đối mặt với bóng đèn cao áp, máy tính hay chiếc ti vi…Cũng như tôi, thật tình khó nhớ và khó nói làm sao…
Xin cảm ơn bầu trời đã cho ánh trăng, ánh trăng đã cho tôi nhiều kỉ niệm. Xin mắc nợ mùa trăng rằm nơi làng quê xa lắc mà lâu rồi tôi chưa có dịp trở về. Xin cảm ơn em và buổi tối mất điện hôm nay đã cho tôi kịp nhận ra rằng, bóng trăng vẫn đẹp và luôn đồng hành bên con người.

Đào Tấn Trực

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2009

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC

MÙA THI
Có thể nói mùa thi đã và đang song hành với bất cứ những ai từng ngồi trên ghế nhà trường. Trong quãng đời đi học không ít những người từng lo lắng mất ăn mất ngủ với mùa thi. Hai tiếng mùa thi có nhiều cách cảm nhận, tùy vào từng đối tượng mà nội dung thể hiện tên gọi cũng khác nhau. Đối với học sinh phổ thông, khái niệm mùa thi thường tập trung ở những kì thi học kì, thi chuyển cấp, tốt nghiệp hoặc cao hơn và rộn rịp hơn đó là mùa thi tuyển sinh. Đối với sinh viên, học viên khái niệm mùa thi càng trở nên thiêng liêng trừu tượng trong mỗi con người; mùa thi thường tập trung vào những ngày cuối học kì, kết thúc học phần, hết môn….Dù có khác nhau đôi chút về cách thể hiện, sự ưu tư lo lắng đối với từng đối tượng của một hoạt động diễn ra trong nhà trường nhưng tính chất chất đặc thù của mùa thi không có gì khác nhau.
Mùa thi theo ta gần hết một phần ba cuộc đời. Lúc ấu thơ là tiếng học bài vang vọng trong căn nhà nơi ngõ tối bên ngọn đèn dầu, lớn hơn chút nữa mùa thi là sự vô tư và lo lắng trong tiếng dặn dò của thầy cô với đám học trò, rồi những năm cuối cấp và sau này tính chất của mùa thi lại tỉ lệ thuận với tuổi của đời người. Có lẽ ta càng lớn, trách nhiệm và sự lo lắng trong mỗi con người cũng càng tăng nên ta cảm nhận mùa thi thật đúng nghĩa theo tên gọi của nó. Chính vì vậy mà mùa thi nặng dần với hành trang theo người đi học. Mùa thi gắn liền với sự vất vả, khó nhọc; mùa thi cũng gắn với những kỉ niệm ngọt ngào, khó quên. Để qua và có kết quả cao cũng như sự đỗ đạt đòi hỏi người đi học, đi thi phải nổ lực hết mình, thức khuya dậy sớm gồng mình với từng con chữ trên cánh đồng gian lao. Nhìn chung mùa thi thật đáng lo với những ai học hành một cách nghiêm túc. Khổ là vậy nhưng mùa thi cũng không ít những kỉ niệm vui buồn theo ta đến hết một đời. Có không ít những lần cả nhóm bạn kéo nhau đi học nhóm rồi giả vờ mượn sách của cô bạn gái học chung trường mặc dù chẳng để xem một thứ gì; có những đêm dưới bóng đèn đỏ quạch bên hành lang nơi giảng đường khuya khoắt từng cơn gió cuối đông tràn vào buốt cả thịt da mà đôi bạn vẫn chụm đầu bên trang sách chuẩn bị cho ngày mai thi sớm. Có nhứng lần đi học bài về muộn phải trèo tường vì quá giờ quy định bác bảo vệ đã đóng cổng…Mùa thi cũng mở đầu cho một cấp học, một môi trường mới đưa ta lớn dần lên, được đi nhiều nơi, có nhiều thầy cô bạn bè và đồng nghiệp. Mùa thi cũng là mùa chia tay ngăn cách, để lại bóng hình ai dưới tán phượng già một thời lưu luyến; tạm biệt sân trường, tạm biệt một thời mộng mơ để trở thành người lớn và bước vào đời làm ăn đích thực…
Tháng Năm đã về, mùa thi năm này cũng đã đến. Bây giờ các cô cậu học trò cuối cấp, các anh chị sinh viên năm cuối đang miệt mài đèn sách chuẩn bị cho một mùa thi quan trọng, có tính chất bước ngoặt trong đời. Đặc biệt nhiều năm nay, Bộ giáo dục đã ra chỉ thị “Hai không” nên việc học hành chuẩn bị thi cử lại càng vô cùng nghiêm túc. Nếu ai học hành không đàng hoàng, học qua loa để kiếm tấm bằng thì năm này nhất định sẽ không qua được mùa thi. Tôi có đứa cháu học cuối cấp, nó đang chuẩn bị cho một mùa thi sắp tới. Sợ không qua nên đêm nào nó cũng tỉ mẩn bài vở tới khuya, sáng ra lại dậy sớm tiếp tục. Nhìn thế tôi chợt nhớ lại một thời mình đi học, cũng lo lắng, cũng trách nhiệm như nó bây giờ.
Mùa thi là vậy, mùa thức khuya dậy sớm, giống như mùa làm đồng của người nông dân. Cánh đồng cho hạt lúa, mùa thi cho ta từng con chữ nên người, thực hiện ước mơ bản thân mai này xây dựng quê hương đất nước, đáp lòng mong mỏi của người thân. Mong sao các em có một mùa thi thật thành công.
ĐÀO TẤN TRỰC. (tuoitre online)

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2009

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC



Ký ức THÁNG GIÊNG

Tháng giêng về cùng lúc với giao thừa, song hành cùng Tết nên người ta ít chú ý tháng giêng về khi nào. Chỉ biết sau những ngày Tết vui vẻ, sau các lễ hội đặc thù mang đậm sắc xuân ở các địa phương, con người mới sực nhận ra rằng, bây giờ đang là tháng giêng. Tháng giêng còn với ánh nắng vàng bắt đầu găng gắt rồi chầm chậm trôi qua, để lại trong lòng mỗi người nhiều nỗi nhớ khác nhau.
Tháng giêng trong tôi còn nguyên vẹn mùa kí ức tuổi thơ. Đó là màu hoa cải nở vàng bên luống rau mẹ cuốc sau hè, màu bông vạn thọ đong đưa dưới nắng đón những ngọn gió nồm từ biển thổi vào bắt đầu xao xác ngã nghiêng, màu xác pháo nhuộm đất tan vào trí nhớ, mùi của chiếc áo mới đầu năm phai dần; là vị ngọt ngào của chiếc bánh thuẫn còn sót lại, vị mặn mà của nồi thịt heo kho dưa cải mỗi khi cả nhà ăn cơm và mùa đến trường thêm tuổi mới với bao tiếng cười giòn tan vô tư của đám bạn quanh nhà…Tôi không hiểu sao bấy giờ kí ức tháng giêng trong tuổi thơ vẫn còn nguyên vẹn và nhiều khi khó giải thích hơn một giấc mơ.
Kỉ niệm chồng chất bao nhiêu năm rồi không rõ. Có lẽ hơn mười lăm năm. Hơn mười lăm năm không dài tôi không sống trong những ngày tháng giêng ở làng quê cũ . Kí ức tuổi thơ ngày ngày chìm dần vào dĩ vãng. Không nhớ không được và quên cũng không xong. Lẫn trong bộn bề cát bụi xoay vòng, lúc cô đơn, con người lại nhớ về quê và như thấy mình còn mang một món nợ lớn trong đời. Một năm một tuổi. Cuộc sống trôi nhanh hơn ta tưởng, thoáng chốc trẻ thơ bây giờ đã sợ già nua. Có lẽ cuộc sống là thế, khi còn trẻ con ta muốn mình làm người lớn, khi người lớn rồi ta cảm thấy lo cho nhiều việc rồi nuối tiếc tuổi thơ. Ngồi ngẫm lại mình, nhiều tuổi rồi đấy nhưng chưa làm được một việc gì tích sự, có khi tự hào với ba cái chữ trong đầu nhưng nhiều lúc cũng giận chính mình vì chưa quả quyết, không dám xả láng với bạn bè nhiều phen!
Mười tám tuổi xa nhà lưu lạc, kỉ niệm đôi lúc bỏ quên. Cô bạn hàng xóm ngại đi xa nên lấy chồng sớm nay con đã đến trường. Bạn bè thuở quần đùi chân đất vui sao giờ mỗi đứa một nơi, có người thành đạt, có người vẫn như xưa; không ai giống ai song một điều không thể thiếu là mọi người đều thêm tuổi mới. Tết nay về gặp mặt bao nhiêu là hớn hở vui mừng, dù sống thế nào thì cũng cụng ly lanh canh, chúc tụng ú ù vui vẻ để rồi ra giêng lại tiếp tục cuộc hành trình.
Bây giờ là tháng giêng.Ừ nhỉ. Tháng giêng bây giờ có khác ngày xưa. Với tôi, tháng giêng bây giờ là tiếng học trò cắn hạt dưa tí tách trong lớp học không sao cấm được, là lời mời của bạn bè về cạn chai rượu đầu xuân lúc chiều tan sở, là những cánh mai vàng vương vãi xuống thềm nhà chủ nhân phải đưa ra sân tưới nước, là suy nghĩ trở trăn năm này mình sẽ làm được gì, là nỗi lo tuổi mẹ chồng chất , là chiều chiều chứng kiến cảnh trên đường quốc lộ người ta đón xe đò tấp nập vào Nam…Ừ nhỉ, tháng giêng bây giờ là thế. Nhìn bên ngoài cũng có người ngây thơ như mình năm nọ, cũng có người tất bật như mình như hôm nay. Đúng là đời sống lợi danh cơm áo, đôi lúc con nguời cũng phải vượt qua nhiều thứ để giữ lấy cuộc đời cũng là lẽ đương nhiên.!
Tháng giêng là thế. Tháng giêng trôi đi đồng nghĩa với việc mình thêm một tuổi. Kí ức lưu kho cho cuộc đời sao mà vô vàng thế. Dễ gì nhớ, dễ gì quên.

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2009

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC


CON TRÂU VỚI ĐỜI NGƯỜI

Con trâu gắn với đời sống sinh hoạt của con người, đặc biệt là người dân thuộc vùng văn minh nông nghiệp lúa nước.
Ở Việt Nam, có thể nói, không một người nào không biết đến con trâu.
Hình ảnh con trâu không xa lạ, nó trở nên gần gũi quen thuộc với con người. Trâu tập trung nhiều nhất ở hai vùng đồng bằng lớn, song hầu như trên khắp các vùng nông thôn ở đất nước ta, nơi nào cũng có sự hiện diện của con vật gần gũi quen thuộc này.
Trong nông nghiệp, trâu giúp người dân làm giàu thêm lúa gạo, nếu không giàu chi ít ra họ cũng đủ ăn. Trâu đảm nhận công việc đồng áng như một sự cộng tác đắc lực trung thành cho con người. Con trâu được xem là đầu cơ nghiệp: kéo cày, bừa, đạp lúa, kéo xe…. Cho nên, người nông dân sợ không có tiền sắm trâu chứ không sợ khổ vì trâu. Họ xem tậu trâu là một trong ba mốc quan trọng trong cuộc đời (tậu trâu cưới vợ làm nhà). Cuôc sống “đúng nghĩa” của người nông dân trước hết phải có con trâu. Có con trâu làm vốn rồi sau đó mới tính đến sự làm ăn no đủ, vững chắc, yên bình. Nếu như nói con chó có nghĩa với con người thì con trâu thật xứng đáng với cái ơn có đức cho nhà nông. Cái đức đó thể hiện ở sự tương quan giữa vật nuôi và chủ, giữa mối quan hệ sinh tồn không tách rời của vạn vật trong vũ trụ. Nhà nông gắn liền với cỏ, với trâu. Cỏ cần thiết cho sự sống của trâu cũng như lúa cần thiết cho sự sống con người. Trâu và ta làm việc cật lực mới có miếng ăn no ấm. Dù bát cơm hay cọng cỏ cũng đều biểu thị cho một quá trình đạt thành quả lao động khó khăn. Vì vậy, khi nói đến cỏ là sao ta quên trâu, ngược lại nhìn đến trâu ta phải biết trân trọng những cái gì gọi là cỏ khô, rơm rác.
Trâu gắn với đời sống kinh tế, song trâu cũng tham gia ra trận, đánh giặc giữ nước. Điều đó được ghi bằng những trang sử vẻ vang của dân tộc qua các thời kì. Sách Địa chí Hà Bắc-1982 có ghi về cuộc khởi nghĩa của nông dân chống lại triều đình nhà Nguyễn dưới thời vua Tự Đức. Năm 1870, Gáp Văn Trận, người vùng Yên Thế dùng trâu cày trong làng mở cuộc xung trận chống lại triều đình. Nhờ vào thế mạnh chưa từng có, nghĩa quân Giáp văn Trận đã dành được nhiều thắng lợi vang dội… Trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở cuối thế kỉ XIX, nhân dân Nam Kì lại chứng kiến cảnh Thiên hộ Võ Duy Dương ở đồng Tháp Mười cưỡi trâu ra trận. Ông dùng tiếng mõ điều khiển, trâu biết vâng lời theo lời chủ tướng. Những lúc xông trận, trâu biết lao thẳng, quật ngã kẻ thù trước khi nó ngã xuống… Đến thời kì chống Mỹ, người dân Thừa Thiên đã từng chứng kiến và tự hào với tấm gương chị Nguyễn Thị Lài cùng một số người dân lùa trâu lên đường cản trở đoàn xe Mĩ. Nhân cơ hội đó, chị dùng mìn và lựu đạn đánh thẳng vào xe ban chỉ huy tuỳ tùng, tiêu diệt gọn bon lính Mĩ…. Như vậy, cùng với ngựa, voi, trâu đã đứng vào hàng ngũ binh chủng trong cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước của dân tộc Việt Nam.
Ngoài ra, con trâu còn là biểu tượng cho sự yên bình ấm no hạnh phúc của một làng quê Việt. Hình ảnh con trâu trên thảm cỏ, ruộng lúa bề đê đã đi vào kí ức của biết bao thế hệ. Ngày mùa, trâu kéo cày. Ngày mùa, trâu thong thả ra đồng rồi lững thững về nhà lúc chiều buông xuống, chúng đứng đưới luỹ tre êm ả, dưới gốc duối gọi gió ầu ơ nhai cỏ tận hưởng sự hạnh phúc yên bình. Con trâu trở thành người bạn thân thiết, thành tâm điểm trong trí nhớ của một thời chăn đốt lửa, cắt cỏ xa xôi. Ai cũng có một điểm xuất phát, một mái nhà; ai cũng bưng bát cơm ăn và thầm biết ơn hạt ngọc của nhà trời. Điều đó, do đâu mà có! Rồi có biết bao con người là hèn sang danh vọng, thấp cao may rủi ở đời ra đi, thành công từ luỹ tre làng… Có lẽ tất cả đều được bắt nguồn, đền đáp sau mỗi bước chân trâu. Bây giờ dù có đi xa về không gian thời gian, ta vẫn nhớ về nơi đó như một kỉ niệm không thể nào quên.
Với đời sống tinh thần, con trâu càng trở nên thân thuộc. Trong số 12 con vật chọn làm 12 con giáp biểu trưng cho năm tháng và tuổi tác con người ở đời, trâu là một trong những con vật gần gũi thân thiết nhất. Những người mang tuổi trâu thường có sức mạnh phi thường, có cá tính riêng, cần cù và chăm chỉ. Dù trời mưa to hay nắng cháy vẫn lầm lũi hiền từ, vẫn trung thành đến nhẫn nại. Con trâu to lớn nhưng nó không hung hăng độc ác, làm nhiều việc nặng nhọc song cũng không đòi hỏi hay cần một sự trả ơn nào ở đời. Người cầm tinh tuổi Sửu thường gặp may mắn và hạnh phúc trong cuộc đời.
Có lẽ cũng bắt nguồn từ nền nông nghiệp lúa nước nên hình tượng con trâu xuất hiện khá nhiều trong văn học Việt Nam, nhất là trong văn học dân gian. Tác giả dân gian mượn hình ảnh con trâu để nói lên bao điều trong cuộc sống. Chẳng hạng để chỉ những người hay sai lầm trong cuộc sống nhưng không biết ăn năng hối cãi, tìm cách khắc phục mà vẫn có tính bảo thủ bao che cái sai, dân gian đã dùng thành ngữ Trâu lấm vẫy càng để phê phán. Hoặc khi nói đến những người không chịu khuất phục trước uy quyền, sẵn sàng bảo vệ lẽ phải mặc dù chịu nhiều thiệt thòi ta có thành ngữ Trâu già chẳng nệ dao phay. Để chỉ những con người có tính trăng hoa, ta thường nghe câu Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi .
Đặc biệt khi đề cao tính sáng suốt thông minh và trí nhớ của người bạn nhà nông, dân gian ta đã đúc rút trong câu tục ngữ Lạc đường nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu. Ở câu tục ngữ này, ta thấy con trâu như người bạn chỉ đường, người giúp đỡ lại con người những khi cần thiết, đó là chuyện có thật, không sai. Khi nhắc con người sống cho ra sống, sống có ý nghĩa trên cuộc đời, sống nên làm những điều tốt để phải khỏi bị những tiếng tăm không hay về sau, dân gian có câu Trâu chết để da, người ta chết để tiếng. Câu tục ngữ này cũng ngầm ý phê phán những con người không tốt, gây phiền hà nhiều trong cuộc sống thì mai kia nhất định sẽ để lại những điều không hay.
Trong văn học dân gian Việt Nam, người nông dân mượn hình ảnh con trâu để thổ lộ tâm tình sâu đận ở nhiều bài ca dao. Lời thổ lộ tâm tình ấy có tính chất gần gũi thân thiết như một người bạn, người quen, suốt đời gắn bó và san sẻ, làm lụng hổ trợ nhau để cùng có miếng ăn. Trâu ơi ta bảo trâu này/ Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta/Cấy cày vốn nghiệp nông gia/Ta đây trâu đấy ai mà quản công/Bao giờ cây lúa còn bông/ Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn. Bài ca dao ngắn gọn nhưng cho thấy tình cảm của người và con vật. Lời lẽ chân thật, hình ảnh sinh động, ý nghĩ sâu sắc. Đó cũng là một lời biết ơn, nhắc nhở bền chặt của con người với con vật.
Trong khó nhọc, con người vẫn có niềm tin lạc quan vào cuộc sống ngày mai. Với người nông dân chân lấm tay bùn, đôi khi tiền tài vật chất không quan trọng Thằng Bờm có cái quạt mo/ Phú Ông xin đổi ba bò chín trâu/ Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu…Phú Ông xin đổi nắm xôi Bờm cười. Chuyện của Bờm cũng dễ dàng chấp nhận, bỡi cuộc sống của người bình dân vốn quen với những gì thiết thực dung hoà.
Con trâu giúp người và con người gắng bó với con trâu. Những ngày mùa công việc bề bộn cả hai cùng vất vả nhọc nhằn và cũng có lúc nhàn nhã. Để chỉ số phận con người và con trâu sướng khổ cùng có nhau ta có bài ca dao Rủ nhau đi cấy đi cày/ Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu/Trên đồng cạn, dưới đồng sau/ Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa. Rõ ràng cuộc sống vui đáo để. Cái khốn khổ đi cùng với niềm tin yêu hạnh phúc cũng như con trâu trong nhiều mối quan hệ với cuộc sống con người.
Ngoài việc ca ngợi động viên khuyến khích, ở đời con người còn có những phê phán chê bai, chỉ sự nhầm lẫn. Ví như câu ca dao Tiếc cô gái khôn lấy thằng chồng dại/ tiếc bông hoa lài cắm bãi cứt trâu. Câu ca dao có khen có chê, biểu hiện sự không cân xứng về hôn nhân đôi lứa. Con trâu cũng được đưa vào chuyện vui hệ trọng của đời người Cưới em tám vạn trâu bò/ Bảy vạn dê lợn chín vò rượu tăm… Cưới nàng anh toan dẫn trâu…
Hình tượng con trâu trong đời sống vô cùng phong phú. Nó gắn với đời sống kinh tế, tinh thần của con người ở nhiều lĩnh vực. Con trâu cũng trở thành một yếu tố cơ hữa trong vốn văn hoá của dân tộc Việt Nam. Cuộc sống ngày nay có nhiều tiến bộ về mặt khoa học kĩ thuật, đất nước đang trên đà công nghiệp hoá hiện đại hoá nhưng con trâu vẫn cứ được xem hình ảnh không thể thiếu của một vùng đất nằm trong nền văn minh nông nghiệp lúa nước.
Cuộc sống đang tiếp tục phát triển. Con người càng trở nên văn minh hiện đại. Mong rằng trong bộn bề cuộc sống đó, chúng ta đừng bao giờ chia bè kéo cánh, chia rẽ anh em như kiểu Ngưu tầm ngưu mã tầm mã hoặc sống theo kiểu Đầu trâu mặt ngựa thì buồn lắm.
Hi vọng rằng năm con Trâu sẽ có nhiều niềm vui và thắng lợi.


Đào Tấn Trực

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2008

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC




Niềm vui neo giữ phận người


Tôi bước vào trường Sư phạm như một sự tình cờ nếu không nói là bất đắc dĩ.Tôi nói như vâỵ hoàn toàn dựa vào những điều thực tế của bản thân. Số là ngày trước tôi học một ngành khác, ngành Y. Năm 1996 tôi tốt nghiệp Y sỹ hệ chính quy, đây là khoá Y sỹ chính quy cuối cùng trong hệ thống đào tạo cán bộ Y tế cơ sở. Ra trường, tôi tình nguyện xin về công tác tại một xã miền núi nhưng lần lừa mái mấy năm trời không được. Không biết vì lý do gì. Sau đó tôi xin đi dự thi lớp Bác sỹ hệ chuyên tu tại Huế với nguyện vọng sau này về phục vụ cho xã nhà. Bởi quê tôi là một xã miền núi nên từ trước đến tận bây giờ vẫn không có một Bác sỹ nào chịu về công tác. Tôi khăn gói lên đường tiến thẳng cố đô. Được vài ngày, tôi nhận tin từ phòng Đào tạo Trường Y báo hồ sơ đồng chí không hợp lệ, phải có giấy chứng nhận công tác ở địa phương. Tôi trở về xã mong xin được tờ giấy đó nhưng rồi không được..!Tôi nghĩ, chẳng lẽ cuộc đời mình chấm hết ở đây! Tôi sẽ chứng minh khả năng của mình cho mọi người xem. Thế là tôi nộp đơn thi vào trường Sư phạm.
Một điều phải đáng công nhận như một định luật là thời gian. Ba năm trung học chuyên nghiệp, bốn năm thất nghiệp rồi bốn năm trong trường sư phạm, thế là hơn 10 năm, tuổi trẻ của tôi vèo một cái trôi tuột bên thềm. Bây giờ ngồi nhìn lại, tiếc thật.
Vào môi trường mới, tôi không ngừng cố gắng. Có nhiều kỉ niệm về trường lớp, thầy cô bạn hè học tập thật đáng nhớ, song nhớ nhất là ngày đi thực tập sư phạm; sau tiết dạy đầu tiên, cô giáo hướng dẫn chuyên môn bảo : “Nhìn tướng mạo trông giống thầy giáo thật đấy, sau này em có khả năng trở thành một giáo viên giỏi về chuyên môn.” Nghe vậy, tôi mừng rớn người, tôi nói với cô rằng em sẽ cố gắng hết sức. Cô nhìn tôi cười thân thiện như một niềm hi vọng còn đang phía trước, lúc này tôi thấy cô đẹp hơn bình thường. Sau đợt thực tập, tôi được nhà trường đánh giá, xếp loại xuất sắc.
Trở thành sinh viên sư phạm, công việc của nghề cũ gần như trôi vào dĩ vãng. Không phải tôi quên nhưng những gì cần làm tôi phải làm.. Ngoài học, tôi còn tập trung vào nghiên cứu và sáng tác, phải nói tôi rằng tôi là người hơi có duyên với văn chương cho nên những năm sinh viên tôi có bài đăng thường xuyên trên các tờ báo. Việc làm đó kéo tôi về với văn chương sách vở gần hơn.
Ngày ra trường, tôi vinh dự so với nhiều bạn bè cùng khoá, tôi có được hai tờ quyết định đi làm cùng một lúc( có lẽ ông trời bù lại lúc trước): một của Sở Giáo dục gọi đi dạy và một của một cơ quan báo chí hợp đồng làm phóng viên. Tôi thấy khó khăn với cách lựa chọn của mình. Mẹ bảo: con làm thầy giáo sau này sẽ có nhiều học trò, tâm sáng và được gần nhà, công việc ổn định. Ngoài gia đình, nhiều bạn tôi cũng khuyên tôi như vậy nhưng tôi thì tôi chán gần nhà lắm rồi; vả lại tôi thích được tựdo, đi nhiều, tôi muốn nghề báo…Một thời gian ngắn cần phải quyết định, cuối cùng tôi nghe lời mẹ, tôi thành thầy giáo ngon lành.
Tôi được phân công dạy ở một trường THPT lớn nhất huyện. Mấy tuần đầu tiên lên lớp vui nhiều. Học trò cứ ngơ ngẩn hỏi lâu giờ thầy dạy ở trường nào. Tôi bảo tôi mới vào nghề nhưng chúng nó không tin. Nó bảo thầy lớn rồi mà mới vào nghề. Tôi nói các em nên tin đi, làm thầy giáo không nói dối ai bao giờ, nhất là với học trò. Nó bảo vậy mà thầy B nay nói dối lắm thầy ơi. Tôi trợn mắt, cả lớp hình như sợ tôi ngồi im thinh thích.
Lớp học trò đầu tiên của tôi bây giờ có nhiều em ra trường đi làm rồi. chúng theo đủ nghề, đủ nghiệp, ra trường thất tán xa cách nhiều nơi. Lâu lâu chúng nó về quê ghé lại thăm thầy. Ngồi bên nhau thầy trò hỏi thăm đủ điều trong cuộc sống mới và nhắc lại những kỉ niệm trường lớp ngày xưa, qua những lần trò chuyện như vậy, tôi biết các em bây giờ cũng vất vả như tôi đã từng tìm việc ngày xưa.
Chủ nhiệm lớp là môt niền vui riêng trong những ngày đi dạy. Giáo viên không nhận được công tác chủ nhiệm khác nào gia đình thiếu vắng trẻ thơ. Cũng may năm sau, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp ban C. Ngày nhận lớp 10, nhìn em nào cũng hiền từ trong sáng và thơ ngây, tôi hỏi bây giờ các em bầu chọn bạn nào làm lớp trưởng. Chúng nó bảo lớp mình toàn nữ, thôi bây giờ thầy làm lớp trưởng luôn đi. Tôi nói đồng ý, cả lớp vỗ tay hoan hô lớp trưởng, thật đúng là học trò hết chõ nói…Thế đấy ngày đầu tiên lớp tôi chủ nhiệm thế đấy.
Ngày tháng trôi đi, ba năm qua nhẹ nhàng như một giấc mơ .Ba năm có biết bao niềm vui, kỉ niệm; ba năm cũng không trách khỏi những nỗi buồn nhẹ len từ hai phía. Lớp có 44 học sinh, tôi biết tình tình, hoàn cảnh gia đinh, sức học của từng em một; ngược lại các em cũng biết tôi, kiến thức, lòng đam mê rồi khả năng của thầy…Biết để gắng bó đồng cảm sẻ chia, biết để cùng nhau khắc phuc phấn đấu tiến bộ trong cuộc sống ngày mai… Trong buổi liên hoan chia tay ngày các em ra trường thật vui và tình cảm, ai cũng nói ra những điều rất thật từ trong lòng mình. Những lời nói thật khiến cảm xúc con người nhiều khi không thể kiềm nén được buộc phải nghẹn ngào. Các em tốt nghiệp ra trường, bây giờ đang là sinh viên của nhiều trường Cao đẳng Đại học trên cả nước. Các em có cuộc sống, môi trường và thầy cô mới; cũng như thầy, thầy sẽ có những lớp học trò mới, chúng nó cũng dễ thương, học giỏi và đôi lúc cũng nghịch ngợm như các em ngày trước. Thế đấy, cuộc sống hợp tan là lẽ thường mà chúng ta là người phải biết chấp nhận.
Thời gian đi dạy chưa gọi là dài lắm so với nhiều người khác nhưng bao nhiêu đó cũng đủ để tôi cảm thấy yêu nghề. Tình yêu đó không rõ hình bóng và cũng không thể định hình; tình yêu đó đủ để tôi biết nói lời cảm ơn với lời khen của cô giáo ngày xưa, đủ để tôi cảm thấy vững vàng yên tâm mỗi sáng mai xách cặp đến trường và khỏi khập khiễng khi bước lên bục giảng. Theo tôi, yêu nghề là gắn với trường lớp, công việc, học sinh, là tinh thần trách nhiêm, sự tận tâm và không ngừng học tập nghiên cứu; yêu nghề cũng phải biết tự trọng và biết đấu tranh bảo vệ lẽ phải, chống lại những gì gọi là a dua, ích kỉ và bảo thủ, yêu nghề cũng gắn với những trở trăn suy nghĩ tìm tòi phương pháp cho bài học tương lai…Phải nói,gắn với trường lớp quen rồi, những ngày nghỉ phép hoặc đi công tác, tôi cảm thấy như thiếu vắng một cái gì đó; hoặc những khi bản thân có điều không vui, vào lớp nhìn thấy gương mặt trong sáng thơ ngây của các em, những muộn phiền cuộc sống tan biến đi đâu cũng không biết nữa.
Nghề giáo là một nghề được xã hội tôn vinh từ xưa đến giờ. Bằng chứng chỉ rõ vào những việc làm thiết thực mà nhà nước ta đã và đang thực hiện. Trên bình diện chung của cả nước và truyền thông hiếu học của dân ta, tôi rât tự hào với công việc của mình. Nhưng trong một góc độ nào đó, hình tượng người thầy giáo trong cách nhìn của nhiều người ngày nay, giá trị không còn nguyên vẹn như xưa nữa. Biết giải thích làm sao đây. Một điều thật lạ kì, ngày nay người người nhà nhà cho con đi hoc , ai cũng mong muốn con mình thành người tại sao lại có một cái nhìn lệch hướng về người thầy như vậy. Biết rằng không thể tránh khỏi những chấm đen nhỏ đáng tiếc hằng năm mà báo đài đã lên tiếng, đất nước ta ngày ngày vẫn có hàng triệu triệu thầy cô giáo miệt mài chèo đò trên dòng sông rộng gian lao. Ở đó hình ảnh người thầy trong mắt của bao thế hệ người Việt Nam cứ lung linh toả sáng không ngừng. Thế mà, trong bộn bề cuộc sống hôm nay, đôi khi ngoảnh mặt nghe nhiều câu mà bản thân mình làm thầy giáo không khỏi bùi ngùi. Đồng ý thầy giáo nghèo vật chất, nhưng nghèo về tinh thần xin nói là không. Có người bảo lương không cao làm sao tâm sáng được… Xin nói lương tâm không liên quan gì với lương bỗng, chỉ sợ cái khác thôi.
Hơn năm năm đi dạy, buồn vui va chạm có rồi. Có lúc muốn chuyển nghề để đạt được nhiều mục đích khác nhưng rồi thôi. Cái duyên trong đời nhiều khi không ngờ được, và chính những điều không ngờ đó đã buộc chặt mình với một ai.

DTT
(Theo tuoitreonline)

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2008

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC


BÁT NƯỚC CHÈ XANH.

Tôi biết đến bát nước chè xanh từ những ngày còn nhỏ. Quê tôi nằm ở vùng đất đỏ bazan quanh năm khí hậu mát mẻ phù hợp với các loài cây nhiệt đới, trong đó có cây chè.

Cuối thập niên bảy mươi và đầu những năm tám mươi của thế kỉ trước, sau cuộc vận động kinh tế, khai hoang vỡ hóa vùng đất này,quê tôi trở thành một nông trường chè của huyện.Ngoài ban giám đốc,phần lớn công nhân lao động chủ yếu những người ngoài các tỉnh từ bắc miền Trung trở ra vào đây lập nghiệp.Tôi còn nhớ có chú Hạ ,cô Quyền người Nghệ An. Cô chú tham gia thanh niên xung phong trong chiến tranh rồi đất nước giải phóng hai người dắt nhau về quê,đất chật người đông không có việc làm nên cả hai lặn lội vào đây.Những ngày đầu vào nông trường cô chú ở nhờ nhà tôi, gia tài mang theo chỉ có vài bộ áo quần bộ đội và một cái điếu cày đầu bịt nhôm đã lên nước bóng nhoáng. Mờ sáng, chú thường ngồi ở hiên nhà với ấm chè xanh hái từ chiều hôm trước ngoài nông trường om qua đêm. Chú uống bát chè nóng, rít hơi thuốc Lào thay bữa ăn sáng rồi cả hai cùng đi làm.Từ ngày có chú Ha,ï cô Quyền nhà tôi cũng vui hẳn lên. Tuy là nồi riêng nhưng có những chiều ăn cơm chung thật đầm ấm.

Cha tôi cũng bắt đầu uống chè xanh từ khi đó.Chú Hạ lấy làm vui nói: Chè xanh thơm lắm ông cụ à, nó thường chống được bệnh cảm ho thông thường ấy. Cha lấy làm đắc chí và dần dần chuyển sang uống chè xanh hẳn. Mỗi lần đi làm bên nông trường về chú Hạ không quên mang về một nắm, chú còn chỉ cha cách om chè đúng kiểu như người ngoài Bắc . Phải chọn lá không quá non hoặc quá già,nếu lá non sẽ loãng nước,lá già quá sợ mất vị thơm,lá vừa sẽ keo nước, có vị thơm và vị chát uống rất ngon. Có hai cách om: hoặc dùng ấm đất cho nước lạnh vào đun thật sôi rồi vò lá chè vừa chuẩn bị xong cho vào ấm , bỏ vào một lát gừng tươi đậy nắp lại, dùng khăn vải bọc kín giữ nhiệt độ , hai tiếng sau có thể dùng ngon; hoặc dùng ấm thường đun nước sôi rồi vò chè bỏ vào và bớt lửa hong trên than nóng nhẹ,cách này có thể dùng ngay nhưng không lâu và ngon như cách trên. Tôi nhiều lần om chè cho cha và cũng biết uống bát chè xanh lần đầu ở quê nhà.Sau này lớn lên tôi phải đi học xa nhà.

Từ biệt gia đình, cô Quyền chú Hạ tôi vào tỉnh rồi dần dần đi xa hơn. Nơi tôi trọ học một thời gian dài là vùng đất cố đô kinh kì-thủ phủ một thời đế vương phong kiến tồn tại gần hai thế kỉ trên đất nước ta. Chính vì vậy mà cuộc sống và con người nơi đây có những nét gì đó rất lạ so với nơi khác;họ trang nghiêm ,lễ giáo, nặng tình người…Ở đây được làm quen với những người bạn miền ngoài, tôi biết và học được ở họ nhiều điều về cuộc sống, văn hóa mà vùng đất Phú của tôi không có. Trong muôn vàn cái riêng chung đó,có bát nước chè xanh. Cái hôm Bố thằng Hiếu, bạn học cùng lớp , ở cùng phòng vào thăm, ông mang theo đủ thứ quà quê. Sau một đêm dốc bầu tâm sự, sáng hôm sau tôi thấy ông lấy từ trong ba lô ra một nắm chè xanh cho vào cái ấm cũ của tụi tôi đã lên màu đen vì khói lồ xô, ông cặm cụi đun và lấy bì kẹo lạc ra nhâm nhi cùng bát nước chè nóng trước khi lên tàu về Nghệ An. Vừa ngồi với nhau ông vừa nói: Choa thấy ở đầu hẻm có O bán cơm Hến, sáng tụi mi ra đó ăn một bát lót dạ rồi đi học, ở đó có nước chè xanh… Từ đó tôi và thằng Hiếu còm sáng nào cũng ra ăn tô cơm hến 1000 đồng và uống chén chè xanh rồi mới đạp xe lên giảng đường, lâu ngày tụi tôi và O bán cơm Hến trở nên thân tình. Ngày ra trường, tôi và Hiếu chuyển đồ ra đầu con hẻm, O nhìn tụi tôi vẫy tay nghẹn ngào: Tụi mi đi mạnh khỏe, khi mô trở lại ghé thăm O hè...Lâu rồi tôi chưa trở lại nơi này!

Tôi được phân công làm việc dưới đồng bằng. Do thời buổi công nghiệp nên con người cũng phải tất bật như những cỗ máy để mưu sinh. Buổi sáng uống li caphê vỉa hè trong vội vã, bạn bè chưa kịp hỏi chuyện với nhau đã đến giờ. Cứ thế một ngày, một tuần trôi qua…Chiều cuối tuần lại phải tranh thủ chạy về quê thăm mẹ. Mỗi lần như thế tôi không quên hái nắm chè xanh mang về thành phố, bạn bè thấy vậy bảo mày giống ông cụ Bắc kì quá, tôi cười – sợ không giống đấy chứ.

Gần đây rải rác trên báo đài có nói về uống chè xanh sẽ phòng được bệnh ung thư. Thế là họ đổ xô nhau đi tìm chè xanh mà uống, nhưng ở vùng đồng bằng cát trắng dọc duyên hải miền Trung tìm đâu ra. Lên chợ không thấy bán, về quê thì không có. Nghe bạn bè mách bảo họ tìm đến tôi, mấy chị trong cơ quan luôn miệng thứ bảy này em có về quê(thật tình mấy năm rồi có người có biết quê tôi ở đâu). Oâng Sếp trong cơ quan lại bảo khi nào về mang xuống cho bố nguyên một cây cả gốc lẫn rễ. Chiều lòng tôi cũng hì hạch mang từ vùng đất đỏ xuống, chỉ mấy tuần sau là cây ra bờ rào nằm.Thì ra loại cây khó tính này cũng kén đất dữ hè.

Đến cuối những năn chín mươi , vì làm ăn thua lỗ nên nông trường đã giải thể để lại một vùng đồi hoang hóa hơn trăm hecta. Những gốc chè to bây giờ không còn thẳng luống như ngày xưa nữa, nó khiêm nhường nằm khép mình dưới một rừng keo tai tượng rì rào trong gió…Và cuối mỗi tuần nó lại âm thầm cung cấp lá, hạt cho tôi mang về dưới xuôi. Cảm ơn các bài báo, vì “nhà ngươi” mà mọi người quan tâm đến ta. Những khi om chè tôi lại nhớ cô Quyền chú Hạ , không biết bây giờ họ đang ở đâu.
ĐTT
(THEO NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI)

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2008

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC

Chuyến xe ngày xưa
Một buổi tối mùa hè, tôi ra đứng trước ban công trên tầng năm của khu kí túc xá. Đang nói chuyện tếu táo với mấy người bạn khác tỉnh, bỗng có một người hỏi: Ở Phú Yên xe ngựa nhiều lắm phải không anh. Sau vài giây định hình, câu trả lời của tôi cũng không rõ ràng: Ừ cũng khá nhiều!
Đêm về tôi nhớ lại câu nói của người bạn, không hiểu sao cảm thấy nao lòng và nhớ về quê da diết. Đúng là quê mình xe ngựa nhiều thật. Không biết từ lúc nào, người dân quê tôi đã chọn loại xe này làm phương tiện đi lại để ngày nay cách nhau hằng mấy tỉnh mà họ vẫn biết đến như một “đặc sản” của mỗi vùng quê. Ngày đó, xe ngựa dùng để chở khách, chở hàng. Hành khách thường là những người địa phương từ quê ra phố chợ và ngược lại từ phố về quê; hàng hoá có khi là các loại rau quả hoặc hàng nông sản, than củi cá mực…không gian lưu hành của những chuyến xe này cũng hạn hẹp khoảng vài mươi cây số trong nội tỉnh và thời gian bắt đầu của một chuyến xe thường từ sáng sớm rồi kết thúc tuỳ theo sự hạn định khách quan hay chủ quan nào đó.
Tôi còn nhớ rất rõ, lúc nhỏ có lần mẹ cho đi chợ huyện bằng xe ngựa. Những ngày nghỉ học, được ngồi trên chiếc xe là một niềm tự hào khoái chí với đám bạn bè cùng trang lứa. Tiếng xe cứ cồng cộc, cồng cộc nhịp nhàng gõ từng âm thanh xuống đường lúc tờ mờ sáng như một bản tình ca làm rung động lòng người. Đây là một trong những âm thanh kỉ niệm gắn con người với làng quê lúc tuổi thơ mà sau này có dịp đi xa, tiếp xúc được nhiều điều lạ tôi mới thấy yêu làng quê mình nhiều hơn nữa.. Một dải đất lặng lẽ bình yên là điểm đến của nhiều người và cũng chính là điểm dừng của những bàn chân đến đây sinh cơ lập nghiệp. Từ đó xe ngựa phú yên được nhiều người biết và nó đi vào đời sống, văn học, âm nhạc như một điều không thể thiếu trong mỗi con người. Với tôi, hình ảnh người xà ích, tiếng nhạc ngựa, cỗ xe…vừa khắc khoải mông lung vừa gần gũi đau đáu thân thương như chính tình cảm của quê hương một thời. Chính vì vậy mà bao nhiêu năm xa quê thấp cao may rủi phận người thế nào, hình bóng một vùng quê nghèo khổ yên bình vẫn chưa thoát khỏi trong tôi.
Hè này tôi trở về quê cũ, con đường ngày xưa vẫn còn đó. Nhà cửa đã thay đổi khá nhiều nhưng có một điều tôi chưa kịp nhận ra là hình như đã thưa dần những chuyến xe ngày ấy, thậm chí có nơi không còn. Có lẽ những gì đi qua đã trở thành cổ tích. Thay chỗ cho bến xe ngựa ngày xưa bây giờ là bến xe ô tô. Đã có xe chở hàng riêng biệt, xe khách chất lượng cao… Tôi thầm nghĩ đến ngày xưa của mình, nghĩ đến câu hỏi của cô bạn hôm nọ nơi giảng đường mà tự nhiên thấy lòng mình quay quắt xót xa.
Bây giờ xã hội phát triển, đời sống và nhu cầu sinh hoạt của mỗi con người cũng một đi lên. Những con đường đất ngoằn ngòeo đã được rải nhựa hoặc bê tông hoá đàng hoàng, tất cả đều được sửa sang tu dưỡng mới mẻ. Những người xà ích trước kia có người đã là bác tài xe khách, xe tải hẳn hoi…Chỉ có những chú ngựa già còm cõi kéo xe ngày xưa không biết bây giờ đã về đâu.

ĐTT

Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2008

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC


Hương sữa
Vài năm trở lại đây, cây hoa sữa đã trở nên quen thuộc với nhiều người. Từ thành phố, thị xã, thị trấn, đến sân trường…, nơi nào cũng có sự hiện diện của loài cây mang hương hoa ngào ngạc mỗi độ thu về.
Cách đây hơn 15 năm, từ miền Bắc cây hoa sữa được đưa vào các tỉnh miền trung. Có lần đi lao động chúng tôi được nhà trường phân công đào hố để trồng loài cây lạ lẫm này. Ngày đó, cây có giá trị. Thầy bảo: Nếu em nào trồng hỏng sẽ bồi thường 60 000 đồng một cây. Quả thực 60 000 đồng khi đó chúng tôi sống được một tháng xa nhà.
Vài năm sau tôi được ra tham quan ngoài Bắc. Đến thị xã Đồng Hới, xe dừng. Đám bạn tôi bỗng reo lên, hoa sữa kìa, rồi cả nhóm nữ vội vàng bước xuống, ùa ra hàng cây hai bên đường níu hái từng chùm hoa có màu trắng trìu trĩu những giọt nước mưa tinh khiết còn đọng vào cánh hoa. Hôm đó, lần đầu tiên tôi biết đến hoa sữa. Trên chuyến xe bon bon ra Hà Thành ngào ngạt một mùi hương hoa ngọt ngào để sau này mỗi lần nhớ lại, bằng giá nào tôi cũng tìm hái để tặng em. Mùa thu Hà Nội yên lặng trong dịu dàng, mùa thu Hà Nội cũng đằm đằm như từng con người được sinh ra, sống và nói giọng thủ đô. Trên từng con đường, từng tiếng lá rơi theo làn gió, từng con sóng trên mặt nước Hồ Gươm ngập tràn trong mùi hương hoa sữa. Hà Nội hoa sữa nhiều, in bóng trên từng con phố là những hàng cây ngày ngày che nắng, che mưa; chứng kiến bao cảnh vui buồn nhộn nhịp và cũng là nhân chứng cho nhiều đôi tình nhân hò hẹn đón đưa.
Những thành phố phía Bắc cây đã cho hoa thì trong quê tôi mới có phong trào trồng cây. Không biết do thời tiết, khí hậu hay do sức sống chịu thương chịu khó của loài cây này mà chỉ vài năm sau, thị xã quê tôi cũng ngập tràn trong mùi hương hoa sữa mỗi khi thu về. Tôi đi dưới thị xã quê mình mà lòng cảm thấy tự hào vì sức sống của một đô thị đang bắt đầu cựa quậy, chuyển mình để ngày hôm nay thành một thành phố trẻ trung vươn mình.
Những năm gần đây, cây hoa sữa đã mọc lên từ khắp các nẻo đường; từ cơ quan, công sở đến từng con hẻm, hiên nhà. Thu về, hoa sữa toả hương ngào ngạc mong gặp một sự đồng cảm tri âm. Hương hoa theo từng cơn gió, trong đêm toả khắp các nẻo đường như só một sự đồng loã chuẩn bị xoà nhoà ranh giới các loài hoa. Bây giờ hoa sữa nhiều quá, hương hoa không còn một nét độc đáo riêng như ngày xưa nữa. Đôi lần nó bị hất hủi, chê bai đủ điều. Tôi đã nhiều lần nghe các cô bên hàng xóm bảo rằng “hoa đẹp thật, có hương thơm nhưng chẳng có ích gì lại chiếm một vòm xanh kha khá”. Vậy là người ta đổ lỗi cho loài hoa đặc trưng ở đất thủ đô không có tội tình nhưng có mùi hương găng gắt làm con người đau đầu nhức óc, viêm xoang…Vì thế nhiều cây hoa sữa có đường kính 20-30cm phải lìa cội đau lòng nhường chỗ cho những loài cây có giá trị khác. Là một người yêu hoa, lại có nhiều kỉ niệm với loài hoa không trâm anh đài các tôi cũng đau lòng nhưng chẳng biết nói sao; có lẽ cuộc sống là thế, làm sao nói hết bao điều!
Sân trường tôi dạy hoa sữa không nhiều, chỉ có vài ba cây nhưng năm nào thu về hoa cũng nở rộ. Mùa này, tôi lên lớp, trong từng phòng học thoang thoảng mùi hoa sữa. Có lần, tôi hỏi: Các em có nghe thấy mùi hương hoa không? Nhiều em trả lời có và bảo hương sữa nhẹ nhàng quyến rũ nhưng cũng có những em bảo hương sữa gắt làm nhức đầu lắm thầy à… Tôi bằng lòng với chính kiến của các em nhưng trong lòng có một chút bất an. Cũng may hôm đó tôi nhận được thư của một em học trò cũ từ Hà Nội gưỉ vào, trong thư có đoạn viết: Mùa này Hà Nội hoa sữa nở nhiều, đẹp và thơm lắm thầy ạ. Nghe mùi hoa sữa, em cảm thấy nhớ nhiều kỉ niêm, nhớ thầy cô và sân trường cũ quê mình da diết… Tôi gấp lá thư lại, trong lòng còn một chút tin.

ĐTT
(Bài chưa đăng-bản quyền tác giả)