Thứ Năm, 26 tháng 2, 2009

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC

MÙA THI
Có thể nói mùa thi đã và đang song hành với bất cứ những ai từng ngồi trên ghế nhà trường. Trong quãng đời đi học không ít những người từng lo lắng mất ăn mất ngủ với mùa thi. Hai tiếng mùa thi có nhiều cách cảm nhận, tùy vào từng đối tượng mà nội dung thể hiện tên gọi cũng khác nhau. Đối với học sinh phổ thông, khái niệm mùa thi thường tập trung ở những kì thi học kì, thi chuyển cấp, tốt nghiệp hoặc cao hơn và rộn rịp hơn đó là mùa thi tuyển sinh. Đối với sinh viên, học viên khái niệm mùa thi càng trở nên thiêng liêng trừu tượng trong mỗi con người; mùa thi thường tập trung vào những ngày cuối học kì, kết thúc học phần, hết môn….Dù có khác nhau đôi chút về cách thể hiện, sự ưu tư lo lắng đối với từng đối tượng của một hoạt động diễn ra trong nhà trường nhưng tính chất chất đặc thù của mùa thi không có gì khác nhau.
Mùa thi theo ta gần hết một phần ba cuộc đời. Lúc ấu thơ là tiếng học bài vang vọng trong căn nhà nơi ngõ tối bên ngọn đèn dầu, lớn hơn chút nữa mùa thi là sự vô tư và lo lắng trong tiếng dặn dò của thầy cô với đám học trò, rồi những năm cuối cấp và sau này tính chất của mùa thi lại tỉ lệ thuận với tuổi của đời người. Có lẽ ta càng lớn, trách nhiệm và sự lo lắng trong mỗi con người cũng càng tăng nên ta cảm nhận mùa thi thật đúng nghĩa theo tên gọi của nó. Chính vì vậy mà mùa thi nặng dần với hành trang theo người đi học. Mùa thi gắn liền với sự vất vả, khó nhọc; mùa thi cũng gắn với những kỉ niệm ngọt ngào, khó quên. Để qua và có kết quả cao cũng như sự đỗ đạt đòi hỏi người đi học, đi thi phải nổ lực hết mình, thức khuya dậy sớm gồng mình với từng con chữ trên cánh đồng gian lao. Nhìn chung mùa thi thật đáng lo với những ai học hành một cách nghiêm túc. Khổ là vậy nhưng mùa thi cũng không ít những kỉ niệm vui buồn theo ta đến hết một đời. Có không ít những lần cả nhóm bạn kéo nhau đi học nhóm rồi giả vờ mượn sách của cô bạn gái học chung trường mặc dù chẳng để xem một thứ gì; có những đêm dưới bóng đèn đỏ quạch bên hành lang nơi giảng đường khuya khoắt từng cơn gió cuối đông tràn vào buốt cả thịt da mà đôi bạn vẫn chụm đầu bên trang sách chuẩn bị cho ngày mai thi sớm. Có nhứng lần đi học bài về muộn phải trèo tường vì quá giờ quy định bác bảo vệ đã đóng cổng…Mùa thi cũng mở đầu cho một cấp học, một môi trường mới đưa ta lớn dần lên, được đi nhiều nơi, có nhiều thầy cô bạn bè và đồng nghiệp. Mùa thi cũng là mùa chia tay ngăn cách, để lại bóng hình ai dưới tán phượng già một thời lưu luyến; tạm biệt sân trường, tạm biệt một thời mộng mơ để trở thành người lớn và bước vào đời làm ăn đích thực…
Tháng Năm đã về, mùa thi năm này cũng đã đến. Bây giờ các cô cậu học trò cuối cấp, các anh chị sinh viên năm cuối đang miệt mài đèn sách chuẩn bị cho một mùa thi quan trọng, có tính chất bước ngoặt trong đời. Đặc biệt nhiều năm nay, Bộ giáo dục đã ra chỉ thị “Hai không” nên việc học hành chuẩn bị thi cử lại càng vô cùng nghiêm túc. Nếu ai học hành không đàng hoàng, học qua loa để kiếm tấm bằng thì năm này nhất định sẽ không qua được mùa thi. Tôi có đứa cháu học cuối cấp, nó đang chuẩn bị cho một mùa thi sắp tới. Sợ không qua nên đêm nào nó cũng tỉ mẩn bài vở tới khuya, sáng ra lại dậy sớm tiếp tục. Nhìn thế tôi chợt nhớ lại một thời mình đi học, cũng lo lắng, cũng trách nhiệm như nó bây giờ.
Mùa thi là vậy, mùa thức khuya dậy sớm, giống như mùa làm đồng của người nông dân. Cánh đồng cho hạt lúa, mùa thi cho ta từng con chữ nên người, thực hiện ước mơ bản thân mai này xây dựng quê hương đất nước, đáp lòng mong mỏi của người thân. Mong sao các em có một mùa thi thật thành công.
ĐÀO TẤN TRỰC. (tuoitre online)

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2009




HIU HẮT CHỊ TÔI

Trần Hồng Giang

Bốn mươi chị vẫn chưa chồng
Cũng đâu phải chị duyên không có gì!
Chị từng một thuở xuân thì
Với bao gã ngốc trồng si trước nhà.
Thế mà xuân vội đi qua
Để chị lại với la đà gió đông…

Thế gian quen miệng: Ế chồng!
Vô tình thế, để chạnh lòng chị tôi.
Sớm chiều nhìn cảnh lứa đôi
Chị sao tránh khỏi bồi hồi riêng tư.
Ở đời đâu thấy bao giờ
Có ai mong tiếng bà cô muộn chồng?!
Chỉ vì duyên phận long đong
Chứ chị cũng muốn má hồng đừng phai
Chị cũng muốn đêm không dài
Muốn cho gió lặng, sớm mai nắng về
Muốn mềm như cỏ triền đê
Như bạn cùng lứa yên bề chồng con.

Lệ khuya ướt gối tủi hờn
Ai thấu cho chị nỗi buồn lẻ đôi
Ông Tơ bà Nguyệt nửa vời
Se tơ kết tóc những nơi chốn nào!
Sao không lấy sợi chỉ đào
Rồi mang duyên thắm buộc vào chị tôi…

Thôi đừng hiu hắt chị ơi!
Chẳng thèm để ý miệng đời là xong!
Dẫu cho mang tiếng ế chồng
Thì lòng chị vẫn cứ không thấy buồn.
Sá chi một quãng đời xuân
Tiếc chi một bể trầm luân kiếp người.
Vô tư há miệng mà cười
Xem như mình đã chán đời đi tu!
Mơ màng chi những lời ru
Bướm vàng chê trái mù u đã già.

Chị ơi, hiu hắt chi mà!
Nắng lên bướm lại về qua lối này
Rồi duyên sẽ lại vào tay
Để chị hết những tháng ngày ủ ê
Thế rồi đến một chiều kia
Đò sang bến muộn, chị đi lấy chồng!..

T.H.G (lucbat.com)

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2009

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC



Ký ức THÁNG GIÊNG

Tháng giêng về cùng lúc với giao thừa, song hành cùng Tết nên người ta ít chú ý tháng giêng về khi nào. Chỉ biết sau những ngày Tết vui vẻ, sau các lễ hội đặc thù mang đậm sắc xuân ở các địa phương, con người mới sực nhận ra rằng, bây giờ đang là tháng giêng. Tháng giêng còn với ánh nắng vàng bắt đầu găng gắt rồi chầm chậm trôi qua, để lại trong lòng mỗi người nhiều nỗi nhớ khác nhau.
Tháng giêng trong tôi còn nguyên vẹn mùa kí ức tuổi thơ. Đó là màu hoa cải nở vàng bên luống rau mẹ cuốc sau hè, màu bông vạn thọ đong đưa dưới nắng đón những ngọn gió nồm từ biển thổi vào bắt đầu xao xác ngã nghiêng, màu xác pháo nhuộm đất tan vào trí nhớ, mùi của chiếc áo mới đầu năm phai dần; là vị ngọt ngào của chiếc bánh thuẫn còn sót lại, vị mặn mà của nồi thịt heo kho dưa cải mỗi khi cả nhà ăn cơm và mùa đến trường thêm tuổi mới với bao tiếng cười giòn tan vô tư của đám bạn quanh nhà…Tôi không hiểu sao bấy giờ kí ức tháng giêng trong tuổi thơ vẫn còn nguyên vẹn và nhiều khi khó giải thích hơn một giấc mơ.
Kỉ niệm chồng chất bao nhiêu năm rồi không rõ. Có lẽ hơn mười lăm năm. Hơn mười lăm năm không dài tôi không sống trong những ngày tháng giêng ở làng quê cũ . Kí ức tuổi thơ ngày ngày chìm dần vào dĩ vãng. Không nhớ không được và quên cũng không xong. Lẫn trong bộn bề cát bụi xoay vòng, lúc cô đơn, con người lại nhớ về quê và như thấy mình còn mang một món nợ lớn trong đời. Một năm một tuổi. Cuộc sống trôi nhanh hơn ta tưởng, thoáng chốc trẻ thơ bây giờ đã sợ già nua. Có lẽ cuộc sống là thế, khi còn trẻ con ta muốn mình làm người lớn, khi người lớn rồi ta cảm thấy lo cho nhiều việc rồi nuối tiếc tuổi thơ. Ngồi ngẫm lại mình, nhiều tuổi rồi đấy nhưng chưa làm được một việc gì tích sự, có khi tự hào với ba cái chữ trong đầu nhưng nhiều lúc cũng giận chính mình vì chưa quả quyết, không dám xả láng với bạn bè nhiều phen!
Mười tám tuổi xa nhà lưu lạc, kỉ niệm đôi lúc bỏ quên. Cô bạn hàng xóm ngại đi xa nên lấy chồng sớm nay con đã đến trường. Bạn bè thuở quần đùi chân đất vui sao giờ mỗi đứa một nơi, có người thành đạt, có người vẫn như xưa; không ai giống ai song một điều không thể thiếu là mọi người đều thêm tuổi mới. Tết nay về gặp mặt bao nhiêu là hớn hở vui mừng, dù sống thế nào thì cũng cụng ly lanh canh, chúc tụng ú ù vui vẻ để rồi ra giêng lại tiếp tục cuộc hành trình.
Bây giờ là tháng giêng.Ừ nhỉ. Tháng giêng bây giờ có khác ngày xưa. Với tôi, tháng giêng bây giờ là tiếng học trò cắn hạt dưa tí tách trong lớp học không sao cấm được, là lời mời của bạn bè về cạn chai rượu đầu xuân lúc chiều tan sở, là những cánh mai vàng vương vãi xuống thềm nhà chủ nhân phải đưa ra sân tưới nước, là suy nghĩ trở trăn năm này mình sẽ làm được gì, là nỗi lo tuổi mẹ chồng chất , là chiều chiều chứng kiến cảnh trên đường quốc lộ người ta đón xe đò tấp nập vào Nam…Ừ nhỉ, tháng giêng bây giờ là thế. Nhìn bên ngoài cũng có người ngây thơ như mình năm nọ, cũng có người tất bật như mình như hôm nay. Đúng là đời sống lợi danh cơm áo, đôi lúc con nguời cũng phải vượt qua nhiều thứ để giữ lấy cuộc đời cũng là lẽ đương nhiên.!
Tháng giêng là thế. Tháng giêng trôi đi đồng nghĩa với việc mình thêm một tuổi. Kí ức lưu kho cho cuộc đời sao mà vô vàng thế. Dễ gì nhớ, dễ gì quên.

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2009

KẾT QUẢ CUỘC THI THƠ NĂM 2008

3 CÂY BÚT ÁO TRẮNG ĐOẠT GIẢI THƯỞNG THƠ PHÚ YÊN 2008
Hội LH VHNT Phú Yên và Hội Cựu học sinh trung học Phú Yên vừa công bố kết quả chấm giải Cuộc thi Thơ Phú Yên năm 2008; với 11 tác phẩm của 11 tác giả được trao giải. Trong đó, giải nhất là bài thơ “Vọng làng” của tác giả Đào Tấn Trực (hiện là Trưởng GĐAT Phú Yên), một trong 2 giải nhì là bài thơ “Gồng gánh” của Hà Kiều My (thành viên GĐAT Phú Yên, hiện là sinh viên Trường Đại học KHXH-NV TP Hồ Chí Minh) và một trong 3 giải ba là bài thơ “Miền Trung” của Đào Đức Tuấn (nguyên Trưởng GĐAT Phú Yên). Ban tổ chức cuộc thi đã xuất bản tuyển tập các bài thơ vào chung khảo với tựa “Vọng làng” và Lễ trao giải được tổ chức vào Đêm thơ Nguyên tiêu Kỷ Sửu núi Nhạn-Phú Yên 2009.
Áo Trắng xin trân trọng chúc mừng và giới thiệu 3 bài thơ đoạt giải của các cây bút “nhà ta”.
HÙNG PHIÊN

Vọng làng
Có đi về phía con đường
Mới xa xóm vắng, mới thương quê nghèo
Ngày đi câu hát đi theo
Thị thành mơ mảnh trăng treo vườn nhà
Mười bảy tuổi tạm cách xa
Em toan tính chuyện bước qua lời nguyền
Đất nồng còn một chút duyên
Buộc quê với phố, buộc thuyền với sông
Buộc tôi với luống cải ngồng
Bãi bồi ai đắp cho đồng phù sa
Nằm nghe con sóng quê nhà
Một vùng ký ức khói là là bay
Trăng nghiêng xuống ngọn tre gầy
Rạ rơm sương khói nguyện đầy lời ru
Mẹ già đã hóa mùa thu
Câu ca dao cũ hình như lỡ làng
Huơ bàn tay gọi đò sang
Chở tôi về dưới cổng làng ngày xưa…
ĐÀO TẤN TRỰC (giải nhất)

Gồng gánh

Gầy đôi vai
Mẹ gánh đêm quàng qua từng phố nhỏ
Những con dốc thoai thoải dài
Sợ mẹ “mềm chân”…

Người mẹ gánh gồng cuộc mưu sinh
Lang thang trên từng hẻm vắng
Con phố ngoái đầu theo bóng mẹ
Hun hút…

Thời gian như thấy mình có tội
Thêm nhọc nhằn mái đầu bạc phơ
Con chữ đêm qua lại cựa mình trong giấc mơ của mẹ
Những đứa con điện về, xin tiền, đi học
Mẹ gánh lam lũ đi trên đôi vai nhấp nhô hình núi
Cõng cuộc đời đi về phía xa xôi
Bôn ba vượt nghèo
Đi tìm con chữ
Cái nắng óng vàng chiếc áo cũ sờn vai
Lấp lánh…

HÀ KIỀU MY (giải nhì)

Miền Trung
Lòng rao rát miền Trung nhuần hậumiền
Trung xa xăm ngun ngút khô cằn
thương cái rám nắng màu mây nhạt
câu thơ quắt queo không dịu tháng năm.
Miền Trung trong tôi tảo tần dáng mẹ
mẹ gũi gần, mẹ thăm thẳm bao dung
con rong rủi một đời mang nợ
lặng thầm triền mắt mẹ minh mông.
Và lẽ nào em cát gió mung lung
heo hút hồn tôi dặm dài nhung nhớ
em ban mai, em trưa hè nắng đỏ
chiều thời gian con sóng biển lặng nồng.
Miền Trung miên man, miền
Trung thênh thanglời nào thiêng liêng một rời hai gánh
quê hương đầy tim, quê hương tròn mắt
ký ức long long, ký ức ầu ơ…
ĐÀO ĐỨC TUẤN (giải ba)

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2009

THƠ ĐÀO TẤN TRỰC


ĐI CHÙA ĐẦU NĂM

Lưa thưa mưa bụi đầu mùa
Em nghiêng nón cỏ lên chùa đầu năm
Dáng xuân khơi ngọn lửa lòng
Em đi gửu lại trăng rằm tuổi thơ

Ngày anh áo mới đợi chờ
Xênh xang áo tím em vờ không hay
Năm qua đi… tháng ngày dài
Đường xa tít tắp còn hoài đam mê

Tay tôi hứng giọt mưa khuya
Mà nghe chim hót bộn bề xuân sang
dưới hiên còn một nụ vàng
Mình anh lễ phật vội vàng em ơi.

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2009

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC


CON TRÂU VỚI ĐỜI NGƯỜI

Con trâu gắn với đời sống sinh hoạt của con người, đặc biệt là người dân thuộc vùng văn minh nông nghiệp lúa nước.
Ở Việt Nam, có thể nói, không một người nào không biết đến con trâu.
Hình ảnh con trâu không xa lạ, nó trở nên gần gũi quen thuộc với con người. Trâu tập trung nhiều nhất ở hai vùng đồng bằng lớn, song hầu như trên khắp các vùng nông thôn ở đất nước ta, nơi nào cũng có sự hiện diện của con vật gần gũi quen thuộc này.
Trong nông nghiệp, trâu giúp người dân làm giàu thêm lúa gạo, nếu không giàu chi ít ra họ cũng đủ ăn. Trâu đảm nhận công việc đồng áng như một sự cộng tác đắc lực trung thành cho con người. Con trâu được xem là đầu cơ nghiệp: kéo cày, bừa, đạp lúa, kéo xe…. Cho nên, người nông dân sợ không có tiền sắm trâu chứ không sợ khổ vì trâu. Họ xem tậu trâu là một trong ba mốc quan trọng trong cuộc đời (tậu trâu cưới vợ làm nhà). Cuôc sống “đúng nghĩa” của người nông dân trước hết phải có con trâu. Có con trâu làm vốn rồi sau đó mới tính đến sự làm ăn no đủ, vững chắc, yên bình. Nếu như nói con chó có nghĩa với con người thì con trâu thật xứng đáng với cái ơn có đức cho nhà nông. Cái đức đó thể hiện ở sự tương quan giữa vật nuôi và chủ, giữa mối quan hệ sinh tồn không tách rời của vạn vật trong vũ trụ. Nhà nông gắn liền với cỏ, với trâu. Cỏ cần thiết cho sự sống của trâu cũng như lúa cần thiết cho sự sống con người. Trâu và ta làm việc cật lực mới có miếng ăn no ấm. Dù bát cơm hay cọng cỏ cũng đều biểu thị cho một quá trình đạt thành quả lao động khó khăn. Vì vậy, khi nói đến cỏ là sao ta quên trâu, ngược lại nhìn đến trâu ta phải biết trân trọng những cái gì gọi là cỏ khô, rơm rác.
Trâu gắn với đời sống kinh tế, song trâu cũng tham gia ra trận, đánh giặc giữ nước. Điều đó được ghi bằng những trang sử vẻ vang của dân tộc qua các thời kì. Sách Địa chí Hà Bắc-1982 có ghi về cuộc khởi nghĩa của nông dân chống lại triều đình nhà Nguyễn dưới thời vua Tự Đức. Năm 1870, Gáp Văn Trận, người vùng Yên Thế dùng trâu cày trong làng mở cuộc xung trận chống lại triều đình. Nhờ vào thế mạnh chưa từng có, nghĩa quân Giáp văn Trận đã dành được nhiều thắng lợi vang dội… Trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở cuối thế kỉ XIX, nhân dân Nam Kì lại chứng kiến cảnh Thiên hộ Võ Duy Dương ở đồng Tháp Mười cưỡi trâu ra trận. Ông dùng tiếng mõ điều khiển, trâu biết vâng lời theo lời chủ tướng. Những lúc xông trận, trâu biết lao thẳng, quật ngã kẻ thù trước khi nó ngã xuống… Đến thời kì chống Mỹ, người dân Thừa Thiên đã từng chứng kiến và tự hào với tấm gương chị Nguyễn Thị Lài cùng một số người dân lùa trâu lên đường cản trở đoàn xe Mĩ. Nhân cơ hội đó, chị dùng mìn và lựu đạn đánh thẳng vào xe ban chỉ huy tuỳ tùng, tiêu diệt gọn bon lính Mĩ…. Như vậy, cùng với ngựa, voi, trâu đã đứng vào hàng ngũ binh chủng trong cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước của dân tộc Việt Nam.
Ngoài ra, con trâu còn là biểu tượng cho sự yên bình ấm no hạnh phúc của một làng quê Việt. Hình ảnh con trâu trên thảm cỏ, ruộng lúa bề đê đã đi vào kí ức của biết bao thế hệ. Ngày mùa, trâu kéo cày. Ngày mùa, trâu thong thả ra đồng rồi lững thững về nhà lúc chiều buông xuống, chúng đứng đưới luỹ tre êm ả, dưới gốc duối gọi gió ầu ơ nhai cỏ tận hưởng sự hạnh phúc yên bình. Con trâu trở thành người bạn thân thiết, thành tâm điểm trong trí nhớ của một thời chăn đốt lửa, cắt cỏ xa xôi. Ai cũng có một điểm xuất phát, một mái nhà; ai cũng bưng bát cơm ăn và thầm biết ơn hạt ngọc của nhà trời. Điều đó, do đâu mà có! Rồi có biết bao con người là hèn sang danh vọng, thấp cao may rủi ở đời ra đi, thành công từ luỹ tre làng… Có lẽ tất cả đều được bắt nguồn, đền đáp sau mỗi bước chân trâu. Bây giờ dù có đi xa về không gian thời gian, ta vẫn nhớ về nơi đó như một kỉ niệm không thể nào quên.
Với đời sống tinh thần, con trâu càng trở nên thân thuộc. Trong số 12 con vật chọn làm 12 con giáp biểu trưng cho năm tháng và tuổi tác con người ở đời, trâu là một trong những con vật gần gũi thân thiết nhất. Những người mang tuổi trâu thường có sức mạnh phi thường, có cá tính riêng, cần cù và chăm chỉ. Dù trời mưa to hay nắng cháy vẫn lầm lũi hiền từ, vẫn trung thành đến nhẫn nại. Con trâu to lớn nhưng nó không hung hăng độc ác, làm nhiều việc nặng nhọc song cũng không đòi hỏi hay cần một sự trả ơn nào ở đời. Người cầm tinh tuổi Sửu thường gặp may mắn và hạnh phúc trong cuộc đời.
Có lẽ cũng bắt nguồn từ nền nông nghiệp lúa nước nên hình tượng con trâu xuất hiện khá nhiều trong văn học Việt Nam, nhất là trong văn học dân gian. Tác giả dân gian mượn hình ảnh con trâu để nói lên bao điều trong cuộc sống. Chẳng hạng để chỉ những người hay sai lầm trong cuộc sống nhưng không biết ăn năng hối cãi, tìm cách khắc phục mà vẫn có tính bảo thủ bao che cái sai, dân gian đã dùng thành ngữ Trâu lấm vẫy càng để phê phán. Hoặc khi nói đến những người không chịu khuất phục trước uy quyền, sẵn sàng bảo vệ lẽ phải mặc dù chịu nhiều thiệt thòi ta có thành ngữ Trâu già chẳng nệ dao phay. Để chỉ những con người có tính trăng hoa, ta thường nghe câu Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi .
Đặc biệt khi đề cao tính sáng suốt thông minh và trí nhớ của người bạn nhà nông, dân gian ta đã đúc rút trong câu tục ngữ Lạc đường nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu. Ở câu tục ngữ này, ta thấy con trâu như người bạn chỉ đường, người giúp đỡ lại con người những khi cần thiết, đó là chuyện có thật, không sai. Khi nhắc con người sống cho ra sống, sống có ý nghĩa trên cuộc đời, sống nên làm những điều tốt để phải khỏi bị những tiếng tăm không hay về sau, dân gian có câu Trâu chết để da, người ta chết để tiếng. Câu tục ngữ này cũng ngầm ý phê phán những con người không tốt, gây phiền hà nhiều trong cuộc sống thì mai kia nhất định sẽ để lại những điều không hay.
Trong văn học dân gian Việt Nam, người nông dân mượn hình ảnh con trâu để thổ lộ tâm tình sâu đận ở nhiều bài ca dao. Lời thổ lộ tâm tình ấy có tính chất gần gũi thân thiết như một người bạn, người quen, suốt đời gắn bó và san sẻ, làm lụng hổ trợ nhau để cùng có miếng ăn. Trâu ơi ta bảo trâu này/ Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta/Cấy cày vốn nghiệp nông gia/Ta đây trâu đấy ai mà quản công/Bao giờ cây lúa còn bông/ Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn. Bài ca dao ngắn gọn nhưng cho thấy tình cảm của người và con vật. Lời lẽ chân thật, hình ảnh sinh động, ý nghĩ sâu sắc. Đó cũng là một lời biết ơn, nhắc nhở bền chặt của con người với con vật.
Trong khó nhọc, con người vẫn có niềm tin lạc quan vào cuộc sống ngày mai. Với người nông dân chân lấm tay bùn, đôi khi tiền tài vật chất không quan trọng Thằng Bờm có cái quạt mo/ Phú Ông xin đổi ba bò chín trâu/ Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu…Phú Ông xin đổi nắm xôi Bờm cười. Chuyện của Bờm cũng dễ dàng chấp nhận, bỡi cuộc sống của người bình dân vốn quen với những gì thiết thực dung hoà.
Con trâu giúp người và con người gắng bó với con trâu. Những ngày mùa công việc bề bộn cả hai cùng vất vả nhọc nhằn và cũng có lúc nhàn nhã. Để chỉ số phận con người và con trâu sướng khổ cùng có nhau ta có bài ca dao Rủ nhau đi cấy đi cày/ Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu/Trên đồng cạn, dưới đồng sau/ Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa. Rõ ràng cuộc sống vui đáo để. Cái khốn khổ đi cùng với niềm tin yêu hạnh phúc cũng như con trâu trong nhiều mối quan hệ với cuộc sống con người.
Ngoài việc ca ngợi động viên khuyến khích, ở đời con người còn có những phê phán chê bai, chỉ sự nhầm lẫn. Ví như câu ca dao Tiếc cô gái khôn lấy thằng chồng dại/ tiếc bông hoa lài cắm bãi cứt trâu. Câu ca dao có khen có chê, biểu hiện sự không cân xứng về hôn nhân đôi lứa. Con trâu cũng được đưa vào chuyện vui hệ trọng của đời người Cưới em tám vạn trâu bò/ Bảy vạn dê lợn chín vò rượu tăm… Cưới nàng anh toan dẫn trâu…
Hình tượng con trâu trong đời sống vô cùng phong phú. Nó gắn với đời sống kinh tế, tinh thần của con người ở nhiều lĩnh vực. Con trâu cũng trở thành một yếu tố cơ hữa trong vốn văn hoá của dân tộc Việt Nam. Cuộc sống ngày nay có nhiều tiến bộ về mặt khoa học kĩ thuật, đất nước đang trên đà công nghiệp hoá hiện đại hoá nhưng con trâu vẫn cứ được xem hình ảnh không thể thiếu của một vùng đất nằm trong nền văn minh nông nghiệp lúa nước.
Cuộc sống đang tiếp tục phát triển. Con người càng trở nên văn minh hiện đại. Mong rằng trong bộn bề cuộc sống đó, chúng ta đừng bao giờ chia bè kéo cánh, chia rẽ anh em như kiểu Ngưu tầm ngưu mã tầm mã hoặc sống theo kiểu Đầu trâu mặt ngựa thì buồn lắm.
Hi vọng rằng năm con Trâu sẽ có nhiều niềm vui và thắng lợi.


Đào Tấn Trực

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2009

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẨN TRỰC


TIN NHẮN LÚC KHÔNG GIỜ

Năm 2008 trôi qua một cách đường hoàng. Thời khắc cuối năm bao giờ cũng chộn rôn lòng người, nhất là những người ý thức sâu sắc về giá trị được mất của thời gian. Bình tâm một chút cũng không đến nỗi lo lắng gì, bỡi lo lắng nhiều rồi thời gian cũng sẽ trôi đi, không dừng lại bao giờ.
Năm Mậu Tý đi xa, điều đầu tiên tôi nhận được trong năm Kỷ Sửu này là những tin nhắn chúc mừng từ, người thân, bạn bè. Những tin nhắn cũng thường thôi, đại loại như kiểu chúc mừng năm mới, năm mới hạnh phúc, may mắn, thành đạt…Phải nói rằng đó là một niềm vui của thời hiện đại mà nhiều năm trước đây không hề có được.
Dù tin nhắn nhận được có nội dung gì thì đó vẫn là một tín hiệu vui trong thời khắc đầu năm. Khác trước, bây giờ đời sống công nghệ nói trước cho chúng ta biết bao điều. Thảng có lúc nghĩ rằng nó không có giá trị bằng lời chúc thốt ra từ giọng nói hơi thở của con người nhưng hoàn toàn không phải thế. Nó thật giá trị. Không còn khoảng cách về địa lí, không còn bất ngờ và cũng không cần phải chờ đợi như trước nữa. Trong nam ngoài bắc, trong nước hay ngoài nước chỉ vài giây là xong tất, nỗi niềm được gửi gấm, tâm sự được giải bày. Có những người chưa hề biết mặt, chỉ biết qua cái tên, vài lần tin nhắn cho nhau làm quen rồi lãng quên theo năm tháng; có những người gặp nhau bình thường, không thân thiết gì lắm cũng chúc mừng…Có lẽ phút giây thiêng liêng, trời đất thanh bình, âm dương hòa hợp nên con người mới thấy lòng mình nhẹ nhàng như thế. Dù sao đó cũng là một cách thể hiện tấm lòng của con người, mà cuộc sống và đời người chúng ta cần tấm lòng hơn bất cứ điều gì. Biết rằng, tấm lòng thể hiện qua tin nhắn đôi lúc làm mất đi sự thú vị nhưng trong đới sống hiện đại ngày nay, giá trị thực tế của nó lại tăng lên gấp vạn lần.
Bây giờ, những cuộc hẹn hò, những lần gặp mặt bất ngờ như ngày trước không còn nữa. Bỡi thế việc nhận được tin nhắn chúc mừng lúc không giờ không phải là niềm vui của riêng tôi mà đó là việc nên làm và cũng là niềm vui của triệu triệu người.

ĐÀO TẤN TRỰC

Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2008

TRAO ĐỔI HỌC HÀNH THI CỬ


Vì sao học sinh “né” kỳ thi học sinh giỏi quốc gia?
Có mặt trong đội tuyển thi học sinh giỏi quốc gia là niềm mơ ước của rất nhiều học sinh. Tuy nhiên hiện nay, nhiều em lại không mặn mà với kỳ thi này, thậm chí còn tìm cách “né” để không phải dự thi.Đội tuyển dự thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2008-2009 môn Địa lý đang ôn luyện - Ảnh: T.HẰNG

SỨC HÚT GIẢM

Là một trong những trường chủ lực trong việc rèn luyện, bồi dưỡng học sinh tham gia kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, vậy nhưng hai năm gần đây, Trường THPT chuyên Lương Văn Chánh gặp nhiều khó khăn trong việc kêu gọi học sinh tham gia kỳ thi này. Thầy giáo Nguyễn Văn Tăng, Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lương Văn Chánh cho biết: Nếu như các năm trước, học sinh cạnh tranh để được vào đội tuyển học sinh giỏi dự thi cấp quốc gia thì nay các em lại lẩn tránh kỳ thi này. Nguyên nhân là Bộ GD - ĐT bỏ tuyển thẳng vào đại học, cao đẳng đối với học sinh đạt giải học sinh giỏi quốc gia. Chính vì vậy mà nhiều học sinh không còn động lực để tham gia kỳ thi học sinh giỏi quốc gia.

Học sinh trong đội tuyển dự thi học sinh giỏi quốc gia được lựa chọn từ kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh. Để “né” không phải vào đội tuyển, ngay từ kỳ thi học sinh giỏi lớp 12 cấp tỉnh, nhiều học sinh làm bài không đúng với năng lực của mình, thậm chí bỏ giấy trắng. Thầy Tăng nói: “Không chỉ làm bài không đúng với năng lực, một số em khi gần đến ngày tập trung đội tuyển dự thi thì lại xin không tham gia. Năm nay, toàn tỉnh có 57 học sinh vào đội tuyển dự thi học sinh giỏi quốc gia, trong đó Trường THPT chuyên Lương Văn Chánh có đến 46 học sinh. Ngay khi Sở GD - ĐT công bố danh sách học sinh được chọn vào đội tuyển dự thi học sinh giỏi quốc gia, rất nhiều em xin ra khỏi đội tuyển. Ban giám hiệu nhà trường và giáo viên phải phân tích, động viên rất nhiều các em mới đồng ý tham gia”.
Không chỉ phụ huynh, học sinh không mặn mà, các trường THPT cũng không hào hứng với kỳ thi học sinh giỏi quốc gia vì điều đó không đánh giá hết chất lượng đào tạo của trường. Cô giáo Nguyễn Thị Thùy Tiên, giáo viên chuyên bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia cho biết: “Vài năm gần đây, phụ huynh và học sinh chủ yếu tập trung vào kỳ thi tuyển sinh đại học. Với một học sinh giỏi, khả năng giành vị trí thủ khoa kỳ thi tuyển sinh đại học nhiều khi còn dễ hơn là phải ôn tập thi học sinh giỏi quốc gia”.

THIẾU ĐỘNG LỰC ĐỂ PHẤN ĐẤU
57 học sinh được chọn vào đội tuyển dự thi học sinh giỏi quốc gia đang được bồi dưỡng tại Trường THPT chuyên Lương Văn Chánh. Tuy mỗi môn chỉ có 6 học sinh nhưng giờ học rất nghiêm túc. Theo cô Tiên, chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia không giống với nội dung kiến thức ôn tập tuyển sinh đại học, cao đẳng. Vì vậy, nếu dồn sức cho kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, các em sẽ gặp khó khăn trong việc ôn tập thi đại học, cao đẳng. Chính điều này đã làm học sinh không muốn tham gia kỳ thi học sinh giỏi quốc gia. Một học sinh của Trường THPT chuyên Lương Văn Chánh bộc bạch: “Khi biết em tham gia đội tuyển thi học sinh giỏi quốc gia, ba mẹ không bằng lòng chút nào. Nhưng vì truyền thống của trường, vì thầy cô giáo và để khẳng định mình, em sẽ cố gắng. Dù vậy, em vẫn lo nếu trong kỳ thi tuyển sinh đại học, em không đạt kết quả cao thì ba mẹ sẽ buồn lắm”.

Lực lượng chủ lực tham gia thi học sinh giỏi quốc gia của tỉnh Phú Yên là học sinh Trường THPT chuyên Lương Văn Chánh. Từ khi Bộ GD - ĐT quyết định bỏ tuyển thẳng đối với học sinh giỏi quốc gia, học sinh của trường này dần dần “né” kỳ thi này. Đây cũng là điều dễ hiểu. Thầy Tăng nói: “Trước đây, vì được tuyển thẳng nên học sinh dồn hết sức cho kỳ thi học sinh giỏi quốc gia. Khi quyền lợi này không còn, các em tập trung sức để thi đại học, vì hiện nay xã hội đề cao thủ khoa đại học hơn học sinh giỏi. Trường dùng hình thức khen thưởng để kích thích học sinh tham gia, nhưng vì kinh phí hạn hẹp nên việc khen thưởng chưa đủ để hâm nóng nhiệt tình của các em”.
Theo các trường, muốn thu hút được học sinh tham gia kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, Bộ GD - ĐT nên phục hồi chính sách miễn thi đại học. Có như thế, việc đánh giá chất lượng đào tạo giữa các trường trên toàn quốc mới đảm bảo khách quan, đúng thực chất.r
MẠNH THÚY
phuyenonline

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2008

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC




Niềm vui neo giữ phận người


Tôi bước vào trường Sư phạm như một sự tình cờ nếu không nói là bất đắc dĩ.Tôi nói như vâỵ hoàn toàn dựa vào những điều thực tế của bản thân. Số là ngày trước tôi học một ngành khác, ngành Y. Năm 1996 tôi tốt nghiệp Y sỹ hệ chính quy, đây là khoá Y sỹ chính quy cuối cùng trong hệ thống đào tạo cán bộ Y tế cơ sở. Ra trường, tôi tình nguyện xin về công tác tại một xã miền núi nhưng lần lừa mái mấy năm trời không được. Không biết vì lý do gì. Sau đó tôi xin đi dự thi lớp Bác sỹ hệ chuyên tu tại Huế với nguyện vọng sau này về phục vụ cho xã nhà. Bởi quê tôi là một xã miền núi nên từ trước đến tận bây giờ vẫn không có một Bác sỹ nào chịu về công tác. Tôi khăn gói lên đường tiến thẳng cố đô. Được vài ngày, tôi nhận tin từ phòng Đào tạo Trường Y báo hồ sơ đồng chí không hợp lệ, phải có giấy chứng nhận công tác ở địa phương. Tôi trở về xã mong xin được tờ giấy đó nhưng rồi không được..!Tôi nghĩ, chẳng lẽ cuộc đời mình chấm hết ở đây! Tôi sẽ chứng minh khả năng của mình cho mọi người xem. Thế là tôi nộp đơn thi vào trường Sư phạm.
Một điều phải đáng công nhận như một định luật là thời gian. Ba năm trung học chuyên nghiệp, bốn năm thất nghiệp rồi bốn năm trong trường sư phạm, thế là hơn 10 năm, tuổi trẻ của tôi vèo một cái trôi tuột bên thềm. Bây giờ ngồi nhìn lại, tiếc thật.
Vào môi trường mới, tôi không ngừng cố gắng. Có nhiều kỉ niệm về trường lớp, thầy cô bạn hè học tập thật đáng nhớ, song nhớ nhất là ngày đi thực tập sư phạm; sau tiết dạy đầu tiên, cô giáo hướng dẫn chuyên môn bảo : “Nhìn tướng mạo trông giống thầy giáo thật đấy, sau này em có khả năng trở thành một giáo viên giỏi về chuyên môn.” Nghe vậy, tôi mừng rớn người, tôi nói với cô rằng em sẽ cố gắng hết sức. Cô nhìn tôi cười thân thiện như một niềm hi vọng còn đang phía trước, lúc này tôi thấy cô đẹp hơn bình thường. Sau đợt thực tập, tôi được nhà trường đánh giá, xếp loại xuất sắc.
Trở thành sinh viên sư phạm, công việc của nghề cũ gần như trôi vào dĩ vãng. Không phải tôi quên nhưng những gì cần làm tôi phải làm.. Ngoài học, tôi còn tập trung vào nghiên cứu và sáng tác, phải nói tôi rằng tôi là người hơi có duyên với văn chương cho nên những năm sinh viên tôi có bài đăng thường xuyên trên các tờ báo. Việc làm đó kéo tôi về với văn chương sách vở gần hơn.
Ngày ra trường, tôi vinh dự so với nhiều bạn bè cùng khoá, tôi có được hai tờ quyết định đi làm cùng một lúc( có lẽ ông trời bù lại lúc trước): một của Sở Giáo dục gọi đi dạy và một của một cơ quan báo chí hợp đồng làm phóng viên. Tôi thấy khó khăn với cách lựa chọn của mình. Mẹ bảo: con làm thầy giáo sau này sẽ có nhiều học trò, tâm sáng và được gần nhà, công việc ổn định. Ngoài gia đình, nhiều bạn tôi cũng khuyên tôi như vậy nhưng tôi thì tôi chán gần nhà lắm rồi; vả lại tôi thích được tựdo, đi nhiều, tôi muốn nghề báo…Một thời gian ngắn cần phải quyết định, cuối cùng tôi nghe lời mẹ, tôi thành thầy giáo ngon lành.
Tôi được phân công dạy ở một trường THPT lớn nhất huyện. Mấy tuần đầu tiên lên lớp vui nhiều. Học trò cứ ngơ ngẩn hỏi lâu giờ thầy dạy ở trường nào. Tôi bảo tôi mới vào nghề nhưng chúng nó không tin. Nó bảo thầy lớn rồi mà mới vào nghề. Tôi nói các em nên tin đi, làm thầy giáo không nói dối ai bao giờ, nhất là với học trò. Nó bảo vậy mà thầy B nay nói dối lắm thầy ơi. Tôi trợn mắt, cả lớp hình như sợ tôi ngồi im thinh thích.
Lớp học trò đầu tiên của tôi bây giờ có nhiều em ra trường đi làm rồi. chúng theo đủ nghề, đủ nghiệp, ra trường thất tán xa cách nhiều nơi. Lâu lâu chúng nó về quê ghé lại thăm thầy. Ngồi bên nhau thầy trò hỏi thăm đủ điều trong cuộc sống mới và nhắc lại những kỉ niệm trường lớp ngày xưa, qua những lần trò chuyện như vậy, tôi biết các em bây giờ cũng vất vả như tôi đã từng tìm việc ngày xưa.
Chủ nhiệm lớp là môt niền vui riêng trong những ngày đi dạy. Giáo viên không nhận được công tác chủ nhiệm khác nào gia đình thiếu vắng trẻ thơ. Cũng may năm sau, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp ban C. Ngày nhận lớp 10, nhìn em nào cũng hiền từ trong sáng và thơ ngây, tôi hỏi bây giờ các em bầu chọn bạn nào làm lớp trưởng. Chúng nó bảo lớp mình toàn nữ, thôi bây giờ thầy làm lớp trưởng luôn đi. Tôi nói đồng ý, cả lớp vỗ tay hoan hô lớp trưởng, thật đúng là học trò hết chõ nói…Thế đấy ngày đầu tiên lớp tôi chủ nhiệm thế đấy.
Ngày tháng trôi đi, ba năm qua nhẹ nhàng như một giấc mơ .Ba năm có biết bao niềm vui, kỉ niệm; ba năm cũng không trách khỏi những nỗi buồn nhẹ len từ hai phía. Lớp có 44 học sinh, tôi biết tình tình, hoàn cảnh gia đinh, sức học của từng em một; ngược lại các em cũng biết tôi, kiến thức, lòng đam mê rồi khả năng của thầy…Biết để gắng bó đồng cảm sẻ chia, biết để cùng nhau khắc phuc phấn đấu tiến bộ trong cuộc sống ngày mai… Trong buổi liên hoan chia tay ngày các em ra trường thật vui và tình cảm, ai cũng nói ra những điều rất thật từ trong lòng mình. Những lời nói thật khiến cảm xúc con người nhiều khi không thể kiềm nén được buộc phải nghẹn ngào. Các em tốt nghiệp ra trường, bây giờ đang là sinh viên của nhiều trường Cao đẳng Đại học trên cả nước. Các em có cuộc sống, môi trường và thầy cô mới; cũng như thầy, thầy sẽ có những lớp học trò mới, chúng nó cũng dễ thương, học giỏi và đôi lúc cũng nghịch ngợm như các em ngày trước. Thế đấy, cuộc sống hợp tan là lẽ thường mà chúng ta là người phải biết chấp nhận.
Thời gian đi dạy chưa gọi là dài lắm so với nhiều người khác nhưng bao nhiêu đó cũng đủ để tôi cảm thấy yêu nghề. Tình yêu đó không rõ hình bóng và cũng không thể định hình; tình yêu đó đủ để tôi biết nói lời cảm ơn với lời khen của cô giáo ngày xưa, đủ để tôi cảm thấy vững vàng yên tâm mỗi sáng mai xách cặp đến trường và khỏi khập khiễng khi bước lên bục giảng. Theo tôi, yêu nghề là gắn với trường lớp, công việc, học sinh, là tinh thần trách nhiêm, sự tận tâm và không ngừng học tập nghiên cứu; yêu nghề cũng phải biết tự trọng và biết đấu tranh bảo vệ lẽ phải, chống lại những gì gọi là a dua, ích kỉ và bảo thủ, yêu nghề cũng gắn với những trở trăn suy nghĩ tìm tòi phương pháp cho bài học tương lai…Phải nói,gắn với trường lớp quen rồi, những ngày nghỉ phép hoặc đi công tác, tôi cảm thấy như thiếu vắng một cái gì đó; hoặc những khi bản thân có điều không vui, vào lớp nhìn thấy gương mặt trong sáng thơ ngây của các em, những muộn phiền cuộc sống tan biến đi đâu cũng không biết nữa.
Nghề giáo là một nghề được xã hội tôn vinh từ xưa đến giờ. Bằng chứng chỉ rõ vào những việc làm thiết thực mà nhà nước ta đã và đang thực hiện. Trên bình diện chung của cả nước và truyền thông hiếu học của dân ta, tôi rât tự hào với công việc của mình. Nhưng trong một góc độ nào đó, hình tượng người thầy giáo trong cách nhìn của nhiều người ngày nay, giá trị không còn nguyên vẹn như xưa nữa. Biết giải thích làm sao đây. Một điều thật lạ kì, ngày nay người người nhà nhà cho con đi hoc , ai cũng mong muốn con mình thành người tại sao lại có một cái nhìn lệch hướng về người thầy như vậy. Biết rằng không thể tránh khỏi những chấm đen nhỏ đáng tiếc hằng năm mà báo đài đã lên tiếng, đất nước ta ngày ngày vẫn có hàng triệu triệu thầy cô giáo miệt mài chèo đò trên dòng sông rộng gian lao. Ở đó hình ảnh người thầy trong mắt của bao thế hệ người Việt Nam cứ lung linh toả sáng không ngừng. Thế mà, trong bộn bề cuộc sống hôm nay, đôi khi ngoảnh mặt nghe nhiều câu mà bản thân mình làm thầy giáo không khỏi bùi ngùi. Đồng ý thầy giáo nghèo vật chất, nhưng nghèo về tinh thần xin nói là không. Có người bảo lương không cao làm sao tâm sáng được… Xin nói lương tâm không liên quan gì với lương bỗng, chỉ sợ cái khác thôi.
Hơn năm năm đi dạy, buồn vui va chạm có rồi. Có lúc muốn chuyển nghề để đạt được nhiều mục đích khác nhưng rồi thôi. Cái duyên trong đời nhiều khi không ngờ được, và chính những điều không ngờ đó đã buộc chặt mình với một ai.

DTT
(Theo tuoitreonline)

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2008

THƠ ĐÀO TẤN TRỰC


Tìm lại em ngày xưa


Đừng sống sượng
những lời ngoài ngoài lồng ngực
dù cố gắng vẫn trở nên vô nghĩa

Sao em thường những chuyện đâu đâu
lờ mờ giọng nói
như loài chim di cư hết mùa tìm chốn

Sao em ngày càng giống họ
Điều đó chỉ có thể mãi mãi
xa… ngày xưa.

ĐTT

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2008

TẢN VĂN CỦA ĐÀO TẤN TRỰC


BÁT NƯỚC CHÈ XANH.

Tôi biết đến bát nước chè xanh từ những ngày còn nhỏ. Quê tôi nằm ở vùng đất đỏ bazan quanh năm khí hậu mát mẻ phù hợp với các loài cây nhiệt đới, trong đó có cây chè.

Cuối thập niên bảy mươi và đầu những năm tám mươi của thế kỉ trước, sau cuộc vận động kinh tế, khai hoang vỡ hóa vùng đất này,quê tôi trở thành một nông trường chè của huyện.Ngoài ban giám đốc,phần lớn công nhân lao động chủ yếu những người ngoài các tỉnh từ bắc miền Trung trở ra vào đây lập nghiệp.Tôi còn nhớ có chú Hạ ,cô Quyền người Nghệ An. Cô chú tham gia thanh niên xung phong trong chiến tranh rồi đất nước giải phóng hai người dắt nhau về quê,đất chật người đông không có việc làm nên cả hai lặn lội vào đây.Những ngày đầu vào nông trường cô chú ở nhờ nhà tôi, gia tài mang theo chỉ có vài bộ áo quần bộ đội và một cái điếu cày đầu bịt nhôm đã lên nước bóng nhoáng. Mờ sáng, chú thường ngồi ở hiên nhà với ấm chè xanh hái từ chiều hôm trước ngoài nông trường om qua đêm. Chú uống bát chè nóng, rít hơi thuốc Lào thay bữa ăn sáng rồi cả hai cùng đi làm.Từ ngày có chú Ha,ï cô Quyền nhà tôi cũng vui hẳn lên. Tuy là nồi riêng nhưng có những chiều ăn cơm chung thật đầm ấm.

Cha tôi cũng bắt đầu uống chè xanh từ khi đó.Chú Hạ lấy làm vui nói: Chè xanh thơm lắm ông cụ à, nó thường chống được bệnh cảm ho thông thường ấy. Cha lấy làm đắc chí và dần dần chuyển sang uống chè xanh hẳn. Mỗi lần đi làm bên nông trường về chú Hạ không quên mang về một nắm, chú còn chỉ cha cách om chè đúng kiểu như người ngoài Bắc . Phải chọn lá không quá non hoặc quá già,nếu lá non sẽ loãng nước,lá già quá sợ mất vị thơm,lá vừa sẽ keo nước, có vị thơm và vị chát uống rất ngon. Có hai cách om: hoặc dùng ấm đất cho nước lạnh vào đun thật sôi rồi vò lá chè vừa chuẩn bị xong cho vào ấm , bỏ vào một lát gừng tươi đậy nắp lại, dùng khăn vải bọc kín giữ nhiệt độ , hai tiếng sau có thể dùng ngon; hoặc dùng ấm thường đun nước sôi rồi vò chè bỏ vào và bớt lửa hong trên than nóng nhẹ,cách này có thể dùng ngay nhưng không lâu và ngon như cách trên. Tôi nhiều lần om chè cho cha và cũng biết uống bát chè xanh lần đầu ở quê nhà.Sau này lớn lên tôi phải đi học xa nhà.

Từ biệt gia đình, cô Quyền chú Hạ tôi vào tỉnh rồi dần dần đi xa hơn. Nơi tôi trọ học một thời gian dài là vùng đất cố đô kinh kì-thủ phủ một thời đế vương phong kiến tồn tại gần hai thế kỉ trên đất nước ta. Chính vì vậy mà cuộc sống và con người nơi đây có những nét gì đó rất lạ so với nơi khác;họ trang nghiêm ,lễ giáo, nặng tình người…Ở đây được làm quen với những người bạn miền ngoài, tôi biết và học được ở họ nhiều điều về cuộc sống, văn hóa mà vùng đất Phú của tôi không có. Trong muôn vàn cái riêng chung đó,có bát nước chè xanh. Cái hôm Bố thằng Hiếu, bạn học cùng lớp , ở cùng phòng vào thăm, ông mang theo đủ thứ quà quê. Sau một đêm dốc bầu tâm sự, sáng hôm sau tôi thấy ông lấy từ trong ba lô ra một nắm chè xanh cho vào cái ấm cũ của tụi tôi đã lên màu đen vì khói lồ xô, ông cặm cụi đun và lấy bì kẹo lạc ra nhâm nhi cùng bát nước chè nóng trước khi lên tàu về Nghệ An. Vừa ngồi với nhau ông vừa nói: Choa thấy ở đầu hẻm có O bán cơm Hến, sáng tụi mi ra đó ăn một bát lót dạ rồi đi học, ở đó có nước chè xanh… Từ đó tôi và thằng Hiếu còm sáng nào cũng ra ăn tô cơm hến 1000 đồng và uống chén chè xanh rồi mới đạp xe lên giảng đường, lâu ngày tụi tôi và O bán cơm Hến trở nên thân tình. Ngày ra trường, tôi và Hiếu chuyển đồ ra đầu con hẻm, O nhìn tụi tôi vẫy tay nghẹn ngào: Tụi mi đi mạnh khỏe, khi mô trở lại ghé thăm O hè...Lâu rồi tôi chưa trở lại nơi này!

Tôi được phân công làm việc dưới đồng bằng. Do thời buổi công nghiệp nên con người cũng phải tất bật như những cỗ máy để mưu sinh. Buổi sáng uống li caphê vỉa hè trong vội vã, bạn bè chưa kịp hỏi chuyện với nhau đã đến giờ. Cứ thế một ngày, một tuần trôi qua…Chiều cuối tuần lại phải tranh thủ chạy về quê thăm mẹ. Mỗi lần như thế tôi không quên hái nắm chè xanh mang về thành phố, bạn bè thấy vậy bảo mày giống ông cụ Bắc kì quá, tôi cười – sợ không giống đấy chứ.

Gần đây rải rác trên báo đài có nói về uống chè xanh sẽ phòng được bệnh ung thư. Thế là họ đổ xô nhau đi tìm chè xanh mà uống, nhưng ở vùng đồng bằng cát trắng dọc duyên hải miền Trung tìm đâu ra. Lên chợ không thấy bán, về quê thì không có. Nghe bạn bè mách bảo họ tìm đến tôi, mấy chị trong cơ quan luôn miệng thứ bảy này em có về quê(thật tình mấy năm rồi có người có biết quê tôi ở đâu). Oâng Sếp trong cơ quan lại bảo khi nào về mang xuống cho bố nguyên một cây cả gốc lẫn rễ. Chiều lòng tôi cũng hì hạch mang từ vùng đất đỏ xuống, chỉ mấy tuần sau là cây ra bờ rào nằm.Thì ra loại cây khó tính này cũng kén đất dữ hè.

Đến cuối những năn chín mươi , vì làm ăn thua lỗ nên nông trường đã giải thể để lại một vùng đồi hoang hóa hơn trăm hecta. Những gốc chè to bây giờ không còn thẳng luống như ngày xưa nữa, nó khiêm nhường nằm khép mình dưới một rừng keo tai tượng rì rào trong gió…Và cuối mỗi tuần nó lại âm thầm cung cấp lá, hạt cho tôi mang về dưới xuôi. Cảm ơn các bài báo, vì “nhà ngươi” mà mọi người quan tâm đến ta. Những khi om chè tôi lại nhớ cô Quyền chú Hạ , không biết bây giờ họ đang ở đâu.
ĐTT
(THEO NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI)

THƠ ĐINH LĂNG


TÌM LẠI MÙA ĐÔNG


Em về tìm lại mùa đông
Lá bàng cháy đỏ, rơi cong phố chiều
Lặng im trước bức tường rêu
Lục trong ký ức những điều nhớ quên.

Ly cà phê giấu nỗi buồn
Nhấm từng giọt đắng, con đường xa xa
Hoàng hôn rơi giữa chiều tà
Phố vẫn nhỏ, chỉ riêng ta lớn rồi !

Lá bàng cháy đỏ vẫn rơi
Chiều cong góc phố, em ngồi...mùa đông!

Phú Yên online

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2008

TẢN VĂN CỦA VÕ THỊ LỆ


Lời đề tặng thầy cô
Viết cho thầy T.
Đã hai năm trôi qua tôi không về thăm thầy trong ngày 20 -11.Trong lúc bạn bè bận rộn với những kế hoạch dành cho thầy cô thì tôi vẫn dửng dưng…Ngày đi học, tối về hoàn thành bài tập. Cuộc sống của tôi cứ thế lặp lại theo năm tháng.
Một đêm, dù cố ru mình vào giấc ngủ nhưng tôi không tài nào chợp mắt. Xung quanh tôi là khoảng không tối mịt. Tôi nhớ những năm học phổ thông, nhớ về những người đưa đò suốt mùa học…Tôi viết những dòng chữ như hồi tưởng lại kỉ niệm về người thầy, người cô đã hun đúc trong tôi tình yêu văn học và yêu chính bản thân mình.
Nhỏ bạn thường nhắc đến tên của thầy mỗi lần hai đứa nói về đêm thơ Nguyên Tiêu hay bình luận về một bài báo nào đó. Nhưng mãi cho đến lúc học bồi dưỡng môn văn tôi mới gặp thầy.
Thầy không gò bó bằng cách đọc cho học trò chép nguyên si một bài văn mẫu nào đó. Bài dạy của thầy bao giờ cũng tóm gọn trong một dàn ý mang tính chất gợi mở rồi bọn tôi tự viết thành bài hoàn chỉnh. Thi thoảng, thầy xen vào buổi học bằng một bài thơ vừa sáng tác hay một kỉ niệm của thầy trong những ngày học ở Huế. Thầy có khá nhiều tác phẩm đăng báo. Cho đến bây giờ, tôi vẫn cảm nhận được tình yêu và nỗi nhớ của thầy về Huế trong từng con chữ nhẹ nhàng, da diết…
Ngày đó, tôi cũng tập tành viết lách rồi nhờ thầy góp ý. Lúc đầu, tôi cảm thấy nản vì lúc nào cũng nhận từ thầy những lời phê bình nào là “bài viết không hay”, “bài này chỉ đạt loại trung bình khá”…Dần dần, tôi bắt đầu học tính kiên nhẫn bởi tôi tin rằng mọi sự cố gắng đều được đến đáp xứng đáng.
Nếu tôi biết ơn cô chủ nhiệm là người tập cho tôi cách sống tự lập và phải biết chịu trách nhiệm về những gì mình làm thì tôi cảm ơn thầy về bài học của niềm tin ở bản thân và sự kiên nhẫn. Ngày biết tôi định thi ngành báo chí, gia đình phản đối vì cho đó là ngành nguy hiểm. Tự nhiên tôi chùn bước và không muốn cố gắng nữa…Tình cờ hôm ấy, thầy kể cho tôi nghe về những khó khăn của cậu học trò nhà quê là thầy ra tận xứ Huế để học. Thầy kể về những người con đất Phú thành danh với nghề báo… Ngày hôm ấy tôi đã suy nghĩ thật nhiều về những lời nói của thầy. Tôi nhận ra từ trước tới giờ tôi luôn miệng bảo mình thích ngành báo nhưng chưa một lần tôi thật sự quyết tâm với ước mơ đó. Kì thi đại học sắp đến, tôi quyết định bỏ hẳn ý nghĩ “đậu cũng được, không đậu cũng chẳng sao” như kì thi học sinh giỏi.
Mọi cố gắng đều được đền đáp xứng đáng. Và tôi đã đậu đại học.
Mặc dù bận rộn, thầy vẫn đến chia vui với học trò trong bữa tiệc liên hoan trước hôm tôi vào Nam nhập học. Thầy tặng tôi 50.000 đồng cùng mảnh giấy động viên tôi hãy cố gắng thật nhiều cho chặng đường sắp tới. Lời chúc mừng thật ấm áp…
Học xa nhà, cảm giác cô đơn và thấy mình kiệt sức thường quây lấy tôi sau những giờ học. Tôi sợ những người tin tưởng mình sẽ thất vọng. Những lúc như vậy, tôi chạy một mạch ra bưu điện gọi về cho thầy và cô chủ nhiệm để được tiếp thêm niềm tin. Thi thoảng, đọc được bài thầy trên báo, tôi mừng quýnh và tự nhủ mình không ngừng phấn đấu như thầy.
Mỗi lần về nhà, bao giờ tôi cũng chạy lên năn nỉ nhỏ bạn chở đến nhà thầy và cô.
Lại một 20 - 11 tôi không về thăm nhà. Lại một 20 - 11 tôi gửi về thầy cô lòng biết ơn chân thành món quà là những quyển sách. Lại một 20 - 11 tôi nghe giọng trách móc quen thuộc của thầy và cô chủ nhiệm “Học xa tốn kém lắm, em mua quà làm gì?”. Lời trách yêu sao quá đỗi ngọt ngào…

VÕ THỊ LỆ
Lớp báo chí K07, ĐH KHXH & NV Tp HCM
.

Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2008

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG


Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

văn chương đòi hỏi cái gì... hơn cả máu! Sức sống của Hoàng Phủ Ngọc Tường sau cơn bạo bệnh là một niềm vui cho làng văn học Việt . Trong những ngày tháng điều trị, những trang viết của ông không vì thế “đóng cửa” mà nhiều khi lại thăng hoa vì đây là khoảng thời gian đúc kết của một chuỗi dài “ham chơi”, một thời đã từng lên rừng xuống bể, vào Nam ra Bắc với biết bao “Miền gái đẹp”... Không bao giờ dừng bước - Đó cũng là cốt cách của nhà văn gốc Bích Khê, Quảng Trị này.

Ký là một loại... “khoai”!

+ Có người nói ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ sau Nguyễn Tuân, ông tự hào về điều so sánh đó?- Không có gì làm mình khổ tâm bằng bắt mình tự so sánh với Nguyễn Tuân. Vì từ trước đến nay tôi vẫn coi ông là một bậc tiền bối. Nhưng chính như Nguyễn Tuân nói trong một buổi lễ trao giải của Hội Nhà văn Việt tại Hà Nội, đại ý: Họ nói vậy nhưng chúng ta hy vọng viết khác thôi, khác hoàn toàn không giống gì hết. Tôi cho rằng điều đó là đúng và tôi có cảm tưởng rằng không thể nào viết được những cái như “Vang bóng một thời”... Nhà văn Nguyễn Tuân có tài hoa về cái đó. Nếu đưa so sánh về tính đặc tính của văn học. Tôi cho rằng đó là một so sánh khập khiễng.

+ Bút ký là thể loại gần với báo chí. Vậy yếu tố nào để bút ký có được sức sống bền lâu trong lòng độc giả?

- Theo tôi, để ký sống mãi rất khó. Trước hết, phải có văn, yếu tố văn phong là yếu tố cần nhất của văn chương nói chung, ký nói riêng. Nếu ý tưởng hay mà thể hiện trong bài viết không rành mạch, rõ ràng thì không thể đi vào lòng độc giả được. Ngoài ra, nó còn đòi hỏi nhiều yếu tố khác nữa. Ký là thật, không hư cấu, hoặc phải có cách viết mà độc giả đọc không cho đó là hư cấu. Điều tiếp theo phải nói là tính lạ. Dân gian có nói “khoai đất lạ, mạ đất quen”, thì yếu tố “đất lạ” phù hợp với một loại “khoai” là ký.“Chơi” là một văn hoá

+ Là một “Người ham chơi”, yếu tố “ham chơi” giúp gì cho nhà văn?

- Tôi cho rằng “chơi” cũng là một đặc tính của con người. Người ta không phải chỉ có làm mà phải có cả chơi. Chơi cũng là văn hoá của con người

– “văn hoá chơi”. Ham chơi là hưởng thụ văn hoá, nghệ thuật, triết lý nhân sinh... Nghề viết thì rất cần điều đó.

+ Nghĩa là nhờ cái “ham chơi” mà ông có những trang văn đặc sắc?- Cái đó thuộc về độc giả đánh giá. Nhưng tôi thấy “ham chơi” cũng là một lối sống của nhà văn. Cái may nhất là tránh để không phải ham làm giàu. Nhà văn không nên thiết tha chuyện đó. Nhà phê bình văn học nổi tiếng Kim Thánh Thán của Trung Hoa đã viết: “Tất cả chỉ là chơi thôi, làm người say cũng là một cách chơi”.

+ Có phải vì coi cuộc đời chỉ là một cách chơi mà trong văn của ông mang nặng yếu tố “Phù du”?- Phù du chỉ cái mong manh, mỏng mảnh, không nắm bắt được, chóng qua... Vì vậy hoa thì gọi là hoa Phù Dung, con vật thì gọi Phù Du. Mọi cái có thể là Phù Du. Vì vậy yếu tố Phù Du hay ám ảnh tôi chứ không phải là chủ đề trong sáng tác.+ Huế là cái nôi của văn chương. Ông đã nhiều năm ở Huế, phải chăng vì thế trong văn ông thường nặng tình xứ Huế?- Đúng vậy. Thứ nhất là môi trường ảnh hưởng tư tưởng. Thứ hai, Huế có một kho văn học dân gian, kho văn hoá phi vật thể khá phong phú. Ngoài ra, Huế có rất nhiều cảnh quan thiên nhiên rất đặc trưng. Ví dụ như con sông Hương thì trên thế giới không thể có một con sông nào thơ mộng như thế! Rồi núi Ngự, cầu Trường Tiền...+ Trong tập thơ “Người hái phù dung” bài “Vẽ tôi” rất hay. Nếu bây giờ được “vẽ mình”, ông sẽ vẽ...?- Tôi sẽ vẽ như bài thơ đó. Tức là cốt cách thì giống hoa hồng, đẹp nhưng mong manh lắm, nó không có gì cả, chỉ có hạt sương thôi.Không phải viết về phụ nữ thì mặc váy. Nhưng... + Là người “có tuổi”, hơn nữa là một trong những “cây đại thụ” của nền văn hoá Việt Nam, từng theo dõi bước đường của giới trẻ, ông có nhận xét gì về họ?- Tôi cho rằng, thế hệ trẻ hôm nay không được như ta kỳ vọng. Văn chương ngày xưa viết kỹ lưỡng hơn. Ngày nay có nhiều cái làm người ta bị quyến rũ, nên có ý coi thường văn chương. Tuy nhiên, điểm mạnh là được tiếp thu một gia tài lớn từ kho tàng văn học thế giới, biết ngoại ngữ... nên phần nào qua cách viết, lớp trẻ thể hiện được “sức trẻ”, sự sáng tạo “bạo” hơn.+ Sự khuyên bảo thường làm cho người ta khó chịu nhưng nó lại rất cần thiết, nhất là trong việc cảnh báo. Ông muốn nói với những người cầm bút trẻ điều gì?- Để thành công, cần nhất là sự làm việc nhiệt thành. Phải đọc nhiều sách và chịu khó ngồi vào bàn viết. Luôn biết nuôi dưỡng vốn kiến thức của mình. Không thể mặc váy để viết về người phụ nữ nhưng phải biết, am hiểu những đặc điểm của phụ nữ thì mới viết được. Thế thì phải đọc sách, bởi trong sách thì có cả những điều đó. Phải làm việc cật lực, sáng tác thường xuyên. Không nên rong chơi nhiều quá. Phải biết “ham chơi” - nghĩa là nói đến hưởng thụ một nền văn hoá, chứ không phải chơi ngang, như một đứa trẻ. Đối với thế hệ trẻ, phải biết tiếp thu những gì đã sống cộng với những gì chưa sống để tiếp thu gia tài lớn hơn. Tất nhiên, không phải ai cũng biết cách tiếp thu.Trước khi là nhà văn phải là một Con Người+ Trong lời tựa của tập thơ “Người hái phù dung”, Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo có viết: “Những con chim yến không phải làm tổ bằng nước bọt mà làm bằng chính máu mình; người ta gọi là yến huyết, còn anh Văn Cao thì gọi là yến - thi - sĩ. Nó làm thơ để mà chết vì bài thơ nó làm ra”. Phải chăng, Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã làm thơ bằng máu của mình?” Ông nghĩ thế nào?- Quả thật, văn chương đòi hỏi cái gì hơn cả máu. Kiến thức vươn đến chân trời khác lạ lắm. Cuộc sống ở đâu, văn chương đến đó. Gọi là văn học không biên giới. Có một thời người ta cho văn chương là phải có mấy chức năng. Tôi cho là không phải. Chức năng của nó là sống.+ Tính cách của tác giả quyết định gì trong cách viết, thưa ông?- Tôi cho rằng tính cách của tác giả thể hiện ngay trong từng trang văn. Phong cách và tư tưởng tạo nên nét riêng. Tính cách tuỳ người nhưng đối với nhà văn, tính trung thực cần thiết nhất. Trước khi là nhà văn, anh là một Con Người. Như vậy, một Con Người phải có nhân cách.Làm gì có chuyện “đấu khẩu” nhiều “Nhà” trong một nhà+ Trong gia đình mình có nhiều “Nhà” như vậy (vợ Hoàng Phủ Ngọc Tường là Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, con gái - Nhà thơ Hoàng Dạ Thi) có giúp gì nhiều trong văn chương không thưa ông?- Tôi nghĩ nó có tương tác qua lại với nhau. Nhất là trong thơ. Ví dụ như nói về loài hoa hồng nói chung, cũng có rất nhiều màu, như: hồng phấn, hồng nhạt... Nó tạo cho loài hoa hồng trở nên sang trọng, xinh đẹp, phong phú.+ Thế có khi nào “đấu khẩu” nhau về vấn đề văn chương?- Sống trong cuộc sống bình thường chúng tôi ít nói chuyện về văn chương, thường nói đến chuyện “tương cà mắm muối”. Nhưng đôi lúc cả nhà cùng bàn luận một số vấn đề về văn chương để cùng tương trợ cho nhau thì hoà hợp chứ không có vấn đề gì xảy ra.+ Với nhà văn, “mỗi nhân vật là một đứa con tinh thần”, cũng là một người mình yêu, thương. Có bao giờ Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ “ghen” với nhân vật trong...sách không? Nhất là ở thể ký vốn có tính chân thật rất cao?- Về đời thực, với quá khứ, vợ tôi không bao giờ “phát biểu” vì hiểu rằng, quá khứ của mỗi người đều đáng được tôn trọng. Nghĩa là không giờ ghen với những người đã qua nhưng vô cùng ghen với những người đang có, nếu... Trong văn chương, vợ tôi không ghen bởi bà cũng là nhà văn nên hiểu rằng văn chương nó có thế giới riêng và nhân vật phần nhiều là hư cấu.+ Làm nhà thơ đã khó, làm chồng (hoặc vợ) nhà thơ còn khó hơn. Ông nghĩ gì về bà xã Lâm Thị Mỹ Dạ?- Một nhà văn rất mong một gia đình yên ổn, hạnh phúc. Nhất là đối với tôi. Yên một mặt đời mới lo được những mặt khác. Về gia đình thì Dạ rất chu đáo. Những lời khen đó xin dành cho Mỹ Dạ bởi bao năm nay, Dạ gánh vác công việc gia đình và chăm sóc tôi rất tường tận.+ Lúc bạo bệnh, sự sống - chết “đấu tranh” như thế nào trong ông?- Khi đó thì tôi không phân biệt được sống hay chết. Chỉ dửng dưng thôi. Cuộc sống sẽ chẳng có ý nghĩa gì khi mình không đứng bên bờ vực của sự chết. Thế mới quý sự sống đến nhường nào.+ Có một số thông tin cho rằng, ông bà có ý định bán căn nhà ở Huế vào TP.Hồ Chí Minh sinh sống, điều đó có đúng không?- Tôi như một cái cây già cắm rể ở đất này. Không thể bứng tôi đi nơi nào được. Đến một miền đất lạ tôi sẽ khó sáng tác. Từ trước đến nay tôi có nhiều dịp để đi khỏi Huế nhưng tôi không nghĩ đến điều đó.+ Xin cảm ơn ông!

HỮU QUYẾT - XUÂN HOÀI thực hiện

Thứ Tư, 5 tháng 11, 2008

THƠ NGUYỄN THỊ THANH DIỄM


Với thầy

Con vào năm cuối cấp ba
Chỉ vài tháng nữa con xa mái trường
Xa bao ghế đá con đường
Ngày mai xa cả khoảng vườn yêu thương

Trước thềm quá khứ vấn vươn
Nguời đi thổn thức nỗi buồn hư không
Lá vàng rơi nhẹ trước sân
Hình như cũng có mmột phần nhớ nhung
Ngôi sao sáng phía nghìn trùng
Ước mơ, người bước có cùng song đôi

Thời gian như nước êm trôi
Con quay lưng lại đã rồi ba năm
Con nhìn ánh mắt xa xăm
Dường như thầy cũng…âm thầm như con.


Lặng lẽ một dòng sông
Mỗi đời người có phải một dòng sông
Sao chảy mãi về miền vô tận
Mang phù sa để cây xanh trái ngọt
Để tình yêu trải rộng khắp quê nhà

Mỗi dòng sông đều chở một con đò
Luôn êm dịu như lời mẹ hát
Dòng sông mang trái tim dào dạt
Neo giữ mặt trời cập bến thành công

Tôi đã thấy những dáng hình như thế
Trên khắp nẻo đường, trên mọi dòng sông
Và không biết ai xa rồi có nhớ
Nụ hồng trong sáng mùa đông

Người đã chở bao chuyến đò cập bến
Người đã đi hết một cuộc hành trình
Dẫu lặng lẽ âm thầm nhưng sâu rộng
Với cuộc đời, thầy là cả dòng sông
Nguyễn Thị Thanh Diễm
Lớp 12C - Trường THPT Lê Thành Phương
Tuy An Phú Yên.


Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2008

Thơ Cao Phú Cường


Áo bà ba
Tại sao lại gọi bà ba
Mà không bà… bốn hay là bà… hai?
Hết tiền thiếu gạo đi vay
Chưa nhìn thấy áo nửa ngày đã mong

Ai cho vay được nỗi lòng
Vắng em chỉ biết nhìn dòng sông trôi
Dịu dàng, đằm thắm tuyệt vời
Để chiều sông Hậu – lá rơi… thẫn thờ

Eo, hông chín ngẩn mười ngơ
Đường ly khéo chiếc… bài thơ không lời
Áo vào câu hát đầy vơi
Cho lúa thêm hạt cho trời thêm xanh

Áo làm xuồng mộng chòng chành
Em xinh thêm áo cho tình anh say
Không rời chỉ một phút giây
Áo thơ còn mãi với ngày với đêm

Ra bến - nhớ, lối về - quên
Rượu không uống… áo và em vẫn nồng

C.P.C
lucbat.com

_________

Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2008

THƠ NGUYỄN THỊ THANH SANG



CHỢT
Tự nhiên đậm nhạt bất ngờ
Sắc màu muôn lối trải bờ mắt nâu
Khi thì lách tách mưa ngâ
Lúc nồng sực cái nhìn đầu xuyến xao
Khép hờ lại thấy chiêm bao
Mờ mờ ảo ảo ngôi sao khó gần
Với tay nắm lấy một phần
Chợt bâng quơ, chợt tần ngần hỏi trăng
Giữa khuya níu cái dùng dằng
Sợ người phản đối can ngăn giấc nồng
Chút tình gửi cõi thinh không
Sân si xin ném v ào d òng h ư v ô.

NGUYỄN THỊ THANH SANG
HS L ớp 12C Trường THPT Lê Th ành Ph ương Tuy An Phú Yên.

THƠ TRẦN TRÍ THÔNG


TÌM MÙA

Trần Trí Thông

Nghe câu lục bát ru chiều
Ca dao ai thả cánh diều hư không
Đi tìm đâu lá diêu bông
Người ta hứa để phải lòng chị thôi

Ngày mai câu hứa xa rồi
Góc vườn chị đứng lẻ loi đợi gì
Gió đùa mấy cánh đài bi
Lỡ làng tuổi chị quá thì diêu bông

Mấy lần chị đợi mà không
Mùa nghiêng xuống nhánh cải ngồng vườn đêm
Chỉ điều thêu lệch đường kim
Men theo câu ví chị tìm đò trưa

Đường lầy gánh bóng cơn mưa
Cờ lau trắng bãi tóc thưa bạc màu
Cầu vồng bảy sắc ba màu
Chị ngồi khâu áo hay khâu nỗi buồn

Tình tang câu hát cánh chuồn
Cây sầu đông đã bồn chồn trổ hoa
Người ta áo tím hoa cà
Chị tôi áo vá… ơi à lời ru.

T.T.T

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2008

VI THUỲ LINH TRONG MƯỜI KHUÔN MẶT THƠ TRẺ


Vi Thuỳ Linh
(NHÀ THƠ TRẺ)

Đối với Vi Thuỳ Linh, tình yêu và thơ là định mệnh. Nhà thơ tâm sự: "12 năm làm thơ, sống cho thơ, tôi ngày càng thấm thía thơ là định mệnh của tôi…Có 2 lĩnh vực trường tồn qua mọi thời đại, bởi sức mạnh thiêng liêng vượt qua mọi ranh giới, khác biệt, màu da, ngôn ngữ: đó là Tình yêu và Nghệ thuật. Sống cho thơ và vì thơ mà sống đẹp, tôi vẫn tiếp tục hành trình thơ, hành trình tình yêu của mình.” (Sống Thơ, 6.2007). Trước Vi Thuỳ Linh (VTL) đã có nhiều người làm thơ tình, VTL đã làm mới thơ tình như thế nào?
Thơ tình VTL là thơ tình cuả người đang yêu, đang đắm say hạnh phúc và hoan lạc. VTL miêu tả cuồng nhiệt hạnh phúc nhục thể hoà với hạnh phúc tinh thần trong nhiều bài thơ như Âu Cơ, Tình Tự Ca, Trên Ngực Anh,..
Hồi hộp đến cuối đường tơ lụa Tây Tạng mê ảo cuồng hoa Trứng nhộn nhịp thụ thai Âu Cơ rũ váy rũ nghiệt ngã Lại hứng hứng gió thốc Thôi miên những cánh cửa chồi răng Hoa Thùy Linh Đàn đàn mũi tên bay từ giữa hai đùi Bắn nát sự cam phận.
(Âu Cơ)

“suốt đêm suốt đêm /
Những khát khao được giải phóng “
(Bản Đồ Tình yêu..)
Trong đam mê và say đắm nghiệm sinh tình yêu nhục thể, VTL đặt thành những tín niệm.Tình yêu làm nên nhân loại “Trong lòng em, anh khai thị thế gian “(Âu Cơ). Tình yêu là ánh sáng, là ngày mới là sự sống
“Cả thế giới chật ních buồn phiền bỗng nhiên vắng lặng Để loài người học yêu nhau trở lại Để loài hoa không bao giờ mãn khai, hé mở “(Đường Ong)
Tình yêu cứu rỗi nhân loại
“…Thế giới loạn ly vì lũ khủng bố cuồng man ngu muội cực đoan quá khích
Nắm lấy tay nhau, những bàn tay không biên giới!..
… Những làn môi mọng đỏ đòi hôn như dâu tây đòi nước và ánh sáng
Nếu cả loài người đều yêu nghệ thuật và thơ hay, sẽ không còn cái ác” (Hãy phủ thơ khắp thế giới của em!)
VTL kêu gọi giải phóng phụ nữ
“Hãy vĩnh biệt cuộc sống tĩnh mịch đơn điệu Chịu đựng nô lệ giới tính bằng bị động Hãy yêu nhau, đừng chần chừ nữa Đừng giam đời trong hèn yếu, sợ đàm tiếu điều tiếng lên án từ những kẻ vô hồn bạc nhược Nào cùng đi Hãy vĩnh biệt cuộc sống tĩnh mịch đơn điệu Chịu đựng nô lệ giới tính bằng bị động Hãy yêu nhau, đừng chần chừ nữa Đừng giam đời trong hèn yếu, sợ đàm tiếu điều tiếng lên án từ những kẻ vô hồn bạc nhược Nào cùng đi”
(Bản Đồ Tình yêu)
Em giải phóng em trong thế giới tâm hồn
Hỡi những người phụ nữ, hãy yêu và sống đến cùng như mình muốn
Đừng mặc cảm giấu che! Nín đi! Bắt đầu cuộc sống không cần chịu đựng, chờ chiếu cố
(Yêu cùng George Sand)
VTL khai thác triệt để những phần thân thể và những hoạt động giao hoan tình dục, những cảm giác vật chất và tinh thần: Bàn Tay, Đôi mắt Anh, Trên Ngực Anh, môi hôn, làn da, ” lưng anh lưng em tự sóng” “anh hoà em vào máu “
Anh hạ trời xuống Anh nâng đất lên
Anh bùng vỡ thanh xuân cuồng điên
Trên lưng Anh, bơi mải miết ngón ngón em dài trắng
Môi em trườn đêm căng
Duỗi chân dài, em nối những ranh giới, những núi đồi, sông biển, nhịp nhịp qua cầu đùi muốt
Vào lúc Anh lên em lên Anh
Thụ tạo giấc mơ ấp ủ
Em đạt khát khao làm Mẹ
(Nơi Ánh Sáng)

Yêu là liều, bất chấp ngặt nghèo ngăn cấm
Chẳng có gì trói buộc, hoãn, sợ run

Lúc 12 giờ đêm đến gần Anh đang đợi
Phòng ngủ biển xanh mây bay thiên thanh
Chiếc giường đàn hương - máy bay bằng gỗ
Dâng mình lên theo cơ thể ngụt ngàn
Dâng từng đợt mưa say đợt cắn
Anh trai tráng hệt như chưa lần nào
Em nữ tính nhiều mà sao vẫn thiếu
Đoá nhung đen nở mịn đường cỏ ấm
Còn nợ mùa thu vì em trắng quá
Suốt đời mải miết chạy theo tình yêu
(Tình Tự Ca)
Tuy say đắm nhục thể nhưng VTL vẫn đủ tỉnh táo để suy tư về tình yêu trong những tương quan nhân loại, và nhìn đời tươi xanh
Anh dắt em đi mãi trong màu xanh thành phố, trên triền xanh của sóng, giữa không tận bầu trời
Chúng mình đã đi qua bao thế kỷ bất an, sao loài người yếu đuối đến thế?!
Chúng mình đã đi qua ánh sáng bao nền văn minh huy hoàng, mà nhân gian vẫn tìm gì mãi thế?! Điều quan trọng nhất, bí mật hệ trọng nhất là biết yêu nhau trong sự sống tận cùng
Đi bộ qua những vòm trời, anh nằm bên em giữa thời đại mệt nhoài rạn bóng những thế kỷ
Nhắm mắt để chuỗi ánh nhìn vẹn nguyên phát hàng triệu tia bích ngọc
Máu anh truyền em truyền đời xanh thẳm
(Xanh)
Ta đi tìm thời gian đã mất trong thời gian đang trôi
Ta ước về tháng ngày chưa đến trong thời gian đang trôi
Thong thả yêu nhau bằng khí lực thanh xuân, giữa chớp nhoáng ngày đêm - tình huống nghiệt ngã của tạo hoá
Tận hưởng xuân ngưng lại mùa huyền bí
Làm như quên tình tiết trai gái hôn cháy cả giao thừa...
Trên da thịt đôi ta, theo hơi thở Anh, mưa xuân đang ấm
Gió lên tình, vờ không phân biệt nổi mùi nàng với ngàn hoa
(Ngưng lại mùa xuân)
VTL cũng có những bài thơ tạo được những xúc cảm thẩm mỹ mạnh mẽ, khổng chỉ về niềm hoan lạc và về cả nổi buồn (Nhật Thực, Phiá Ngày Tắt Nắng)
Khi anh đẩy em bằng mắtTrăng vừa tròn mười chín!Em đã thả đi bao nỗi buồnBuộc bằng tóc rụng,Tóc đã rụng mùa mùa nhiều rồiMà chưa thấy nắng lên,Em oà vỡ,Những nỗi đau chèn nhau,Em lầm lũi đến trước cổng nhà anh!Nhặt xác nỗi buồn còn tươi nguyên,Đốt lên thành lửa ném lên trời,Đốt lên thành lửa ném lên trời (Phía Ngày Tắt Nắng)
Nếu so sánh với thơ tình Xuân Diệu, Xuân Quỳnh, Nguyên Sa, thơ tình Vi Thuỳ Linh đã mới hơn nhiều. Người đọc nhận thấy trong thơ VTL chất đắm say cuả Xuân Diệu, chất suy tư tỉnh táo và đằm thắm thuỷ chung cuả Xuân Quỳnh, những tinh tế ngôn ngữ cuả Nguyên Sa, nhưng ở VTL, đúng như nhà thơ tự nhận định, thơ VTL được viết bằng ngôn ngữ tinh ròng, phong phú, bằng giọng tâm sự chân thành gần gũi giàu nữ tính
“Trổ nhiều ô cửa bằng vòm chữ, ngôn ngữ là di sản văn hoá
Viết bằng tiếng Việt thật đẹp và cuốn hút, miệt mài quá mức”
(Yêu cùng George Sand)
Vì thế dù miêu tả tình dục, ngôn ngữ thơ VTL không trần tục thô thiển, mà vẫn giữ được sự chừng mực, vưà đủ bộc lộ tất cả những mê đắm, vừa đủ tỉnh táo giữ được cái đẹp cuả thơ ca trong cái đẹp cuộc sống tươi xanh, để tạo nên những giá trị mới cho thơ tình. Tuy nhiên, về nghệ thuật, thơ VTL không mới.
Tôi nghĩ rằng tình yêu, tình dục, niềm hoan lạc trong tình yêu không phải là tất cả. Cuộc sống có bao nhiêu vấn đề cần tiếng nói cuả thơ ca. Khi tuổi thanh xuân qua đi, khi những trách nhiệm xã hội chồng chất lên vai và khi tình yêu chỉ còn lại những giông bão sau những sắc màu cuả cầu vồng rực rỡ, thịt da chai lỳ nhục cảm, thay vào đó là những đớn đau thân xác (bệnh tật, sự tàn phai..), không biết VTL có còn viết được những dòng thơ sung mãn như những gì chị đã viết. Không phải trong thơ chị đã ánh lên những nét nhăn muộn phiền rồi đó sao. Dù sao VTL vẫn còn đang rất trẻ.
Tự nhủ không thể yêu ai nữaNgười đàn bà sống một mình, vừa muốn quên, vừa mong ngóngChị cố tránh con đường xưa…Lại đêm…Lại đêm… (Thiếu Phụ và Con Đường)
Quả không vui chút nào khi bài viết này chưa kịp công bố thì tôi nhận được tin: “tháng 11 này VTL sẽ ngừng làm thơ, it nhất là 5 năm tới cô sẽ không làm thơ nữa. Vì cô không muốn mãi làm thiếu nữ trong thi ca. Cô muốn làm người đàn bà từng trải.” (theo Thuỳ Vân- An Ninh thế giới- phongdiep.net 23.10.08)
Bùi Công Thuấn

Thotre.com

Thứ Ba, 28 tháng 10, 2008

luc bat hay


Từ giã Huế (Phạm Đông Vũ)
Giữa lưng chừng núi đi về,
Anh nhìn sóng biển bốn bề xôn xao.
Rì rầm nước tự trên cao,
Giữa hai sườn núi lao xao gió ngàn.
Nắng lan chiều hắt hiu vàng.
Xanh ngan ngát núi, xanh tràn biển khơi...

Anh từ giã Huế em ơi
Sông Hương lặng lẽ một thời riêng mang.
Hoàng thành biết mấy xương tan,
Hào sâu biết mấy phũ phàng đó em.
Khiêm Lăng sáo đã buông rèm,
Dấu xưa còn lại mấy thềm rêu xanh.
Đền đài. Ừ cũng mong manh,
Ngó sen vàng vọt bên gành đá xưa...
Huế mùa này lẫn mưa thưa,
Qua đèo đã thấy đong đưa nắng vàng.
Thôi em. Huế đã muộn màng,
Anh trao em sợi nắng vàng làm tin.
Lưng chừng đèo Ải lim dim,
Mới hay anh đã đi tìm Huế thơ...
1988-2008
P.Đ.V
lucbat.com